Cửu đại khanh tự nha sở tại Trường An, căn cứ theo chức năng mà phân bố bên trong và bên ngoài hoàng cung.
Quản lý việc túc vệ cung đình là Quang Lộc Tự, phụ trách ngự mã cùng mã chính là Thái Phó Tự, thống lĩnh cấm vệ quân phía Nam là Vệ Úy Phủ, xử lý sự vụ tông thất là Tông Chính Tự, lại thêm Thiếu Phủ Ty chưởng quản tài chính hoàng thất cùng nội vụ y phục ẩm thực, năm khanh tự này bởi quan hệ mật thiết với hoàng cung nên đều đặt tại hoàng thành.
Còn như Đình Úy Phủ, Thái Thường Tự vv… thì nha sở tọa lạc bên ngoài hoàng cung.
Dẫu là như vậy, vị vu giả mới vào kinh – một vị Na sư – cũng không thể trực tiếp tiến nhập Thái Thường Tự, mà trước tiên phải được an trí tại “Thần Từ” trực thuộc quản hạt của Thái Thường Tự, học tập quy củ lễ chế, sau đó mới được phân phái đến các nơi.
Thần Từ của Đại Càn nằm ở phía Nam thành, đối diện với Cung Tiên Đài phía Bắc.
Thần Từ được kiến lập từ triều trước, sau khi Đại Càn khai quốc thì chỉ trùng tu mở rộng thêm mà thôi. Bởi vậy, so với Cung Tiên Đài được đương kim hoàng đế mới xây dựng, Thần Từ càng thêm cổ phác thần bí; song nếu luận về tiên khí tráng lệ, thì Cung Tiên Đài vẫn chiếm thượng phong.
Đây là đêm thứ hai sau khi chư vu giả tiến kinh, mọi người kết thúc một ngày dài học tập, đang trở về nơi cư trú phía sau cùng Thần Từ.
Chúng nhân chia làm hai hàng, cầm đèn lồng bước qua một cây cầu gỗ, trong đội có một vu nữ khẽ hỏi: “Không biết trong Cung Tiên Đài thờ phụng những vị thần tiên nào?”
Một nam vu đáp lời nàng: “Cung Tiên Đài là đạo cung, tự nhiên thờ phụng chư vị tôn thần Đạo gia…”
Tiếng thì thầm trò chuyện khiến nữ quan tư vu dẫn đường phía trước bật cười lạnh: “Các ngươi đều là vu giả, muốn vào Cung Tiên Đài dập đầu bái lạy, trước phải hỏi xem các tiên sư trong đó có sợ các ngươi làm dơ bẩn tiên đài của bọn họ hay không.”
Vu nữ kia tuổi còn trẻ, chẳng qua chỉ là hiếu kỳ mà hỏi, nào ngờ nghe được lời châm chọc ấy, nhất thời sắc mặt khó coi, cúi đầu thấp đến mức không thể thấp hơn nữa.
Tư vu là thuộc hạ của Thái Chúc, mà chức Đại Vu Thần Thái Chúc – người thường trú tại Thần Từ, chủ quản tế tự bốn mùa – đã khuyết vị nhiều năm, chính vì vậy vu giả ngày càng suy vi, trong khi đạo môn đứng đầu là Cung Tiên Đài thì danh vọng mỗi lúc một cao.
Lời nói kia của tư vu khiến trong đám vu giả xôn xao bàn tán, giữa đội ngũ, một thân áo sắc sặc sỡ, Thiếu Vi trầm mặc bước đi, chỉ lặng lẽ lắng nghe.
Trước khi vào kinh, Thiếu Vi đã chuẩn bị đầy đủ tại phủ Vũ Lăng quận vương, tự nhiên hiểu rõ sự khác biệt giữa Cung Tiên Đài và Thần Từ.
Thần Từ là nơi các triều đại đều có từ xưa, còn Cung Tiên Đài thì xuất hiện sau khi hoàng hậu khai quốc của Đại Càn đề xướng đạo pháp, con trai bà – Lưu Thù, cũng chính là đương kim thiên tử – chịu ảnh hưởng sâu sắc, về sau lại đắm chìm trong việc truy cầu thuật trường sinh, mới khiến cung điện này được kiến lập.
Thần Từ do Đại Vu Thần Thái Chúc chưởng quản, còn chủ của Cung Tiên Đài là người trong đạo môn, một bên là vu, một bên là đạo, kẻ trước thuộc về Thái Thường Tự, kẻ sau lại độc lập ngoài cửu khanh, chỉ nghe lệnh thiên tử.
Nguồn gốc vốn khác biệt, đạo lý tu hành cũng không giống nhau. Đạo gia đại để chủ trương thuận theo tự nhiên, tuy vì đế vương suy diễn thiên cơ, nhưng chỉ cầu biến hóa trong giới hạn của thiên ý, không tán thành nghịch thiên hành sự.
Vu giả thì càng coi trọng sự vụ nhân gian và ý chỉ của nhân hoàng, tin tưởng chư thần quỷ quái các lộ, trăm điều không kỵ, nguyên tắc cũng không cao, bởi vậy sinh ra không ít biến cố đến cả đế vương cũng không thể khống chế — vu cổ chú thuật thường gây tai họa, từ khi đại vu thần tiền nhiệm dùng vu chú hãm hại Thái tử Lưu Cố, Nhân Đế liền căm ghét thuật vu chú đến tận xương tủy, hạ lệnh nghiêm cấm cổ độc chú thuật, chỉ cho phép vu giả thực hành tế tự, cầu thần, phòng dịch và bốc thuốc.
protected text
Song đế vương tất nhiên là mâu thuẫn, Nhân Đế một mặt muốn truy cầu đạo môn trường sinh chi pháp, một mặt lại không thể dứt bỏ những khả năng khác mà vu giả có thể mang lại, bất luận là long thể hay quốc vận.
Giờ khắc này, những lời kia của tư vu, không khỏi khiến chư vu giả bất mãn với Cung Tiên Đài, chỉ vì hiện tại Thần Từ không có đại vu thần tọa trấn, Cung Tiên Đài tự cho mình cao hơn một bậc, thực quá kiêu ngạo.
Thiếu Vi bước đi giữa đội ngũ, chỉ cảm thấy bản thân rõ ràng chính là một kẻ nằm vùng phản đồ, bởi nói cho cùng, nàng là theo Khương Phụ học đạo học.
Chỉ là Khương Phụ hành sự phóng túng, chủ trương tùy tâm tùy ý, hơn nữa giữa đạo học và vu thuật nay cũng đã có chỗ giao thoa, ví như hiện nay tổ chức Na nghi, cũng tế lễ cả thần linh Đạo gia.
Cố chấp với một bên tất sẽ bị trói buộc, Thiếu Vi coi việc này như ăn cơm, cái gì cũng nếm thử mới có thể cao lớn khỏe mạnh.
Rốt cuộc nàng không phải đến để truyền bá cái gì, cũng chẳng vì một chữ “đúng” tuyệt đối mà hành sự – nàng đến để giết người.
Không chọn Cung Tiên Đài cao quý, mà chọn nơi này làm một vu giả, chẳng qua là cân nhắc lợi hại thực tế. Mệnh lý tướng số nàng học cũng bình thường, không thể làm một đạo nhân đỉnh cao, huống hồ Cung Tiên Đài là địa bàn của Xích Dương, nàng nếu tùy tiện xông vào, chưa kịp lộ diện đã bị bóp chết rồi.
Vào Cung Tiên Đài thì như vậy, đi những con đường khác cũng chẳng khá hơn, bất kể làm nô hay làm quan, chỉ cần làm một “người”, sinh tử đều nằm trong một lời của Xích Dương. Như gia nô đã nói, đối phương có lực lượng quỷ thần, có thể tùy ý sát “người” nhờ đó.
Cho nên, nàng định sẵn không thể làm “người”, nàng nhất định cũng phải có được thứ tương tự như Xích Dương, phải trở thành quỷ thần mới có thể khắc sát quỷ thần.
Với thân phận vu giả nhập kinh, là lựa chọn tốt nhất của Thiếu Vi. Làm một vu giả hành tẩu nơi nửa sáng nửa tối, bén rễ sinh trưởng thật nhanh tại đây, không cần câu nệ quy tắc thủ đoạn, mới có thể sớm ngày bố trí một đạo trảm quỷ chi trận vì vị tiên sư tôn quý kia trong Cung Tiên Đài.
Tiếng chuông ngọc và ngọc thạch đung đưa va chạm vang lên trong lúc vu giả bước đi, Thiếu Vi giẫm lên thanh âm đinh đinh đang đang ấy, nửa thân người ẩn trong bóng tối mờ mịt, nghiêng đầu nhìn về phía Bắc.
…
Cung Tiên Đài tọa lạc tại chính Bắc Trường An thành, lúc này đèn đuốc sáng trưng, khói hương mịt mù, tựa như một toà tiên cung chân chính.
Trên Đài Quan Tinh, một bóng người áo đen đứng yên lặng, hắn ngẩng đầu nhìn màn đêm, dưới hàng mi trắng tuyết là một đôi đồng tử nhàn nhạt phản chiếu một vì sao đang lóe sáng.
Tinh tượng có biến, rõ ràng là điềm báo Thiên Cơ nhập thế.
Biến chuyển vi tế bên trong, nếu muốn kịp thời nhìn thấu, chỉ có thể đem bí pháp quan tinh của sư môn hắn tu luyện đến cực hạn mới làm được, thiên hạ này chỉ có hai người có khả năng ấy.
“Sư tỷ, nó vốn không nên nhập thế, yên lặng tiêu vong mới là vận mệnh của nó.” Giọng nói thấp thoáng ý châm biếm vang lên từ miệng Xích Dương: “Lòng từ bi nhân hậu của tỷ xưa nay vô ích, chẳng qua chỉ đẩy nó vào một con đường diệt vong càng thêm tàn khốc… Lần này cũng sẽ không ngoại lệ.”
“Sư tỷ, tỷ với ta cứ chờ xem.”
Trên đài quan tinh, trường bào sắc mực theo gió bay lượn, bóng người hòa lẫn vào đêm tối.
…
Tại gian phòng phía sau cùng Cung Tiên Đài, Minh Đan đang mở một chiếc hộp tre vừa được Phùng Tự mang người đến trao trong ngày.
Nàng vui mừng không xiết, lấy ra y phục và trang sức mới trong hộp, chạy đến trước gương thử lên người, trong gương không ngừng phản chiếu khuôn mặt thiếu nữ tràn đầy phấn khích hân hoan.
Thử đến cuối cùng, khuôn mặt trong gương lại đột nhiên hiện vẻ uể oải.
Minh Đan ôm cả đống y váy, quăng lên giường, chỉ cảm thấy dù y phục trang sức kia có đẹp đến đâu, cũng chẳng có dịp nào để mặc ra ngoài, nàng chỉ có thể lén lút khoác lên trong phòng, còn ngày thường vẫn phải như bao người khác, mỗi ngày khoác lên bộ váy áo xanh xám giống hệt nhau, thật đúng là khiến người ta chán ngán.
Đã vào Cung Tiên Đài hai năm, Minh Đan chẳng còn như thuở ban đầu còn cảm thấy áo váy xanh xám kia mang lại hứng thú gì, nàng dần cảm thấy tòa Cung Tiên Đài này là một cái lồng giam, mỗi ngày lặp đi lặp lại trong khuôn khổ, làm những việc khô khan vô vị, chẳng khác nào hành hình.
Nàng bắt đầu mạo muội mơ tưởng đến thế giới phồn hoa bên ngoài, đáng tiếc vẫn phải nhẫn nhịn thêm hai năm nữa.
Trong lúc bụng dạ oán than, Minh Đan tưởng tượng đến cảnh tượng nhận tổ quy tông hai năm sau, trong lòng vừa háo hức, lại không khỏi thấp thỏm.
Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!
Lần trước “cữu phụ” Phùng Tự đến thăm nàng, từng nói “A mẫu” của nàng dạo gần đây dường như có chuyển biến tốt, tuy vẫn còn điên loạn mơ hồ, nhưng không còn thường xuyên thất kiểm như trước nữa.
Nghe xong lời ấy, trong lòng Minh Đan chẳng yên, song bên ngoài vẫn phải làm bộ tỏ ra mừng rỡ, lại lập tức hỏi han Phùng Tự có thể mang sinh thần bát tự của A mẫu đến hay không, nàng muốn tại Cung Tiên Đài vì A mẫu cầu phúc, mong bà sớm khỏi bệnh.
Phùng Tự đối với nàng xưa nay rất thân thiện, cầu gì cũng đáp ứng. Thuở ban đầu “tái ngộ” tại Đông Lai quận, vị cữu phụ ôn hoà này chưa từng nghi ngờ nàng, luôn khiến nàng cảm thấy rất an lòng.
Nghĩ tới đây, Minh Đan vội chạy lại bên hộp tre, cúi người lục lọi, quả nhiên tìm được một mảnh lụa cuộn tròn. Mở ra xem, chỉ thấy trên ấy ghi chép một đạo bát tự sinh thần, tất nhiên là của Phùng Châu rồi.
Minh Đan nhìn bát tự trong tay, ánh mắt rối ren bất định.
Những gì nàng học ở Cung Tiên Đài đều là đạo học chính thống, phù lục các loại cũng chỉ dùng để trấn tà trừ quỷ, hoàn toàn không dính dáng đến việc tổn thương sinh linh.
Ánh mắt Minh Đan khẽ lóe, lập tức nghĩ tới vu giả trong Thần Từ, nghe nói người ở nơi đó tinh thông những thuật pháp tà dị không thể công khai…
Nhưng nàng sẽ tìm người bên đó giúp mình bằng cách nào? Hơn nữa nếu chuyện này bị bại lộ, về tư thì sẽ khiến người nhà họ Phùng nghi ngờ thân phận nàng, về pháp lại là đại tội bị xử trảm.
Minh Đan nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc không thể hạ quyết tâm, đành tạm thời cất mảnh lụa kia đi.
Nàng vừa cất lụa vào hộp trang điểm, vừa thầm oán trách: năm đó Phùng Châu rõ ràng trọng thương đến thế, vì sao còn có thể sống sót, mà lại sống điên điên khùng khùng, con gái thật thì đã sớm chết rồi, một mình sống sót chẳng qua là hành hạ, vừa khổ mình, vừa khiến người bên cạnh cũng phải lo lắng bất an…
Đúng lúc ấy, gió đêm bỗng thổi qua khiến cửa sổ phát ra âm thanh khe khẽ, Minh Đan giật nảy người, trong lòng hoang mang, bất chợt nghĩ đến điều gì, liền lấy ra một xấp tiền giấy mua nhờ người mang về hôm qua, ôm lấy chậu đồng chạy ra sau phòng không người.
Nàng châm lửa đốt đồ tế trong chậu, một tay ném tiền giấy vào ngọn lửa, miệng thì thầm: “Ngươi nhận lấy số tiền này, sớm đi đầu thai mới là chính đạo, kiếp sau nói không chừng còn có thể đầu thai vào nhà tốt…”
Nàng còn chưa dứt lời, một luồng gió lạnh đột nhiên cuốn tới, khiến lửa bùng cháy dữ dội, Minh Đan thất thanh hét lên, ngã ngồi xuống đất, vội vàng dập ngọn lửa bám trên váy áo, đợi đến khi lửa được dập tắt, mới thấy bộ y phục mới toanh đã bị cháy thủng một lỗ, nhất thời vừa đau lòng vừa sợ hãi, vội vã rời khỏi nơi đó.
Minh Đan vừa chạy, vừa nghĩ: ban ngày đến dọn dẹp lại vậy, dù sao khi nhờ người mua tiền giấy nàng cũng nói là để tế dưỡng mẫu.
Lại nghĩ, con ác quỷ này thật chẳng biết điều! Hay là nói, ác quỷ kia thật sự đạo hạnh thâm sâu, thậm chí có thể cảm ứng được nàng có ý bất lợi với Phùng Châu? Nhưng nàng cũng chỉ nghĩ thôi, đâu đã thật sự ra tay!
Minh Đan hoảng hốt bất an, suốt cả đêm không dám tắt đèn.
Mà kẻ nàng gọi là “ác quỷ” – chính là Thiếu Vi, đêm nay rời khỏi Thần Từ, quả thực như một bóng quỷ đen u linh lặng lẽ lướt vào bóng đêm.
Thần Từ nằm ở phương Nam, Thiếu Vi mang theo Chiêm Chiêm hướng về phương Nam xa hơn mà thám thính.
Ngày trước khi vào thành, Thiếu Vi từng nghỉ chân ở dịch xá qua đêm, tại đó nhận được một mảnh lụa, trên ấy vẽ một tấm bản đồ đơn sơ tới mức thô lậu, may thay phạm vi không lớn, từ Thần Từ hướng Tây Nam, ước chừng hai ba chục dặm là tới điểm cuối trên bản đồ.
Chạy đêm hai ba chục dặm, đối với Thiếu Vi chẳng phải việc khó. Nhưng xuyên phố luồn ngõ tìm đường, lại phải né tránh binh sĩ tuần đêm, quả thật hao tốn thời gian. Dù từng sống ở Trường An, song Thiếu Vi hầu như chưa từng ra khỏi cửa, đối với nội thành không thể coi là quen thuộc, giờ phút này chẳng khác nào một con hồ ly lạ đất, lặng lẽ thăm dò trong bóng tối với đầy cảnh giác.
Tuy nhiên, nàng còn phải chừa thời gian trở về Thần Từ, vì thế đêm nay chỉ dò đường sơ bộ, rồi kịp thời quay về, dự định tối mai sẽ tiếp tục đi một chuyến nữa.
Về đến phía sau Thần Từ, Thiếu Vi leo lên một cây cổ thụ cao lớn, đạp lên thân cây nhảy về phía tường thành cao vút.
Cây và tường còn cách một đoạn không ngắn, dù có chút thân thủ, muốn nhảy qua cũng chẳng dễ, huống hồ tường cao mà hẹp, không chỉ cần kỹ thuật mà còn cần gan lớn.
Trong đêm đen tĩnh mịch, Thiếu Vi tựa như một con linh miêu thực thụ, thân pháp nhẹ nhàng vô thanh, đáp xuống đầu tường mà không phát ra tiếng động, song nàng chưa vội trượt người vào trong viện.
Một lát sau, Thiếu Vi mới đứng thẳng dậy, dọc theo đỉnh tường bước nhanh vài bước, rồi trèo lên nóc một tòa gác cao.
Nàng phục người bên sườn mái ngói, từ sau mái hiên nhô ra nửa cái đầu, ánh mắt hướng về trung tâm Trường An nơi ánh đèn sáng trưng.
Nàng không thể phân biệt được đâu là đèn từ phủ Lỗ hầu, nhưng nàng biết, phủ Lỗ hầu nằm trong số đó.
Gió đêm tháng Giêng vẫn sắc lạnh như dao, Thiếu Vi nằm úp trên mái gác cao, lặng lẽ nhìn một lúc lâu.
Khối ánh sáng ấy là nơi phồn hoa nhất Trường An, chỉ xếp sau hoàng cung, lầu các cao ngất, đèn lửa ấm áp, A mẫu ở đó, giờ phút này hẳn là bình yên, không sao chứ?
Chiêm Chiêm không biết Thiếu Vi đang nhìn gì, tò mò trèo từ vai nàng lên đầu, cùng nàng ngóng nhìn về phía đèn sáng kia.
Thiếu Vi đội lấy chú chim béo tròn trên đầu, lại nhìn thêm chốc lát, rồi mới tung người lao vào bóng tối.
…
Tới đêm hôm sau, khi bóng đêm lại một lần nữa phủ xuống dày đặc, Thiếu Vi xoay mình trên giường, thấy hai vu nữ kia đã ngủ say, liền lặng lẽ rời giường. Trước khi đi, như đêm qua, nàng tiện tay ném hai viên dược hoàn vào chậu than.
Có kinh nghiệm từ đêm trước, lần này hành động của Thiếu Vi càng thêm thuần thục. Nàng lần theo chỉ dẫn trên mảnh lụa, cuối cùng đến được một nơi ánh đèn vô cùng lưa thưa, phóng mắt nhìn ra chỉ thấy mấy gian nhà thấp lùn cũ kỹ, xung quanh chẳng hiểu sao lại âm u lạnh lẽo.
Thiếu Vi từng nhà từng nhà dò xét, thân ảnh trong đêm tối lên lên xuống xuống, cuối cùng dừng bước trước một tiểu viện dán một mảnh giấy thô bằng vải gai nơi cánh cổng.
Vì lo nhầm nhà, quấy nhiễu người lạ, Thiếu Vi không dám mạo muội gõ cửa, chỉ nhẹ nhàng trèo tường vào.
Vừa đặt chân xuống đất, nàng lập tức ngửi thấy một mùi cơm canh thơm ngát.
Không chút chần chừ, nàng lập tức chạy về phía gian bếp đang sáng đèn.
Lần này nàng không còn che giấu tiếng bước chân, vì vậy chẳng mấy chốc đã có một bóng người xám xịt từ nhà bếp bước ra, tay cầm một cây gậy lửa cháy dở, đứng ở cửa nhìn lại.
Ngay sau đó, một bóng người khác chen ra từ trong bếp, hắn vừa thấy Thiếu Vi, liền cất giọng: “Thiếu chủ, cơm sắp xong rồi!”
Nhìn Mặc Ly dường như không hề có khái niệm gì về sự đổi dời của thời gian, Thiếu Vi thoáng ngây người, trong lòng bỗng dâng lên một ảo giác như thể chưa từng rời xa nhau.
Nàng vô thức nhìn về phía phòng chính, thậm chí còn sinh ra cảm giác như thể giây tiếp theo Khương Phụ sẽ vừa ngáp vừa vươn vai bước ra, càu nhàu sao nàng giờ này mới về.
Cơn thất thần ấy chỉ thoáng qua trong chớp mắt, giây kế tiếp, Thiếu Vi vội hỏi: “Thanh Ngưu đâu rồi?”
Quản lý việc túc vệ cung đình là Quang Lộc Tự, phụ trách ngự mã cùng mã chính là Thái Phó Tự, thống lĩnh cấm vệ quân phía Nam là Vệ Úy Phủ, xử lý sự vụ tông thất là Tông Chính Tự, lại thêm Thiếu Phủ Ty chưởng quản tài chính hoàng thất cùng nội vụ y phục ẩm thực, năm khanh tự này bởi quan hệ mật thiết với hoàng cung nên đều đặt tại hoàng thành.
Còn như Đình Úy Phủ, Thái Thường Tự vv… thì nha sở tọa lạc bên ngoài hoàng cung.
Dẫu là như vậy, vị vu giả mới vào kinh – một vị Na sư – cũng không thể trực tiếp tiến nhập Thái Thường Tự, mà trước tiên phải được an trí tại “Thần Từ” trực thuộc quản hạt của Thái Thường Tự, học tập quy củ lễ chế, sau đó mới được phân phái đến các nơi.
Thần Từ của Đại Càn nằm ở phía Nam thành, đối diện với Cung Tiên Đài phía Bắc.
Thần Từ được kiến lập từ triều trước, sau khi Đại Càn khai quốc thì chỉ trùng tu mở rộng thêm mà thôi. Bởi vậy, so với Cung Tiên Đài được đương kim hoàng đế mới xây dựng, Thần Từ càng thêm cổ phác thần bí; song nếu luận về tiên khí tráng lệ, thì Cung Tiên Đài vẫn chiếm thượng phong.
Đây là đêm thứ hai sau khi chư vu giả tiến kinh, mọi người kết thúc một ngày dài học tập, đang trở về nơi cư trú phía sau cùng Thần Từ.
Chúng nhân chia làm hai hàng, cầm đèn lồng bước qua một cây cầu gỗ, trong đội có một vu nữ khẽ hỏi: “Không biết trong Cung Tiên Đài thờ phụng những vị thần tiên nào?”
Một nam vu đáp lời nàng: “Cung Tiên Đài là đạo cung, tự nhiên thờ phụng chư vị tôn thần Đạo gia…”
Tiếng thì thầm trò chuyện khiến nữ quan tư vu dẫn đường phía trước bật cười lạnh: “Các ngươi đều là vu giả, muốn vào Cung Tiên Đài dập đầu bái lạy, trước phải hỏi xem các tiên sư trong đó có sợ các ngươi làm dơ bẩn tiên đài của bọn họ hay không.”
Vu nữ kia tuổi còn trẻ, chẳng qua chỉ là hiếu kỳ mà hỏi, nào ngờ nghe được lời châm chọc ấy, nhất thời sắc mặt khó coi, cúi đầu thấp đến mức không thể thấp hơn nữa.
Tư vu là thuộc hạ của Thái Chúc, mà chức Đại Vu Thần Thái Chúc – người thường trú tại Thần Từ, chủ quản tế tự bốn mùa – đã khuyết vị nhiều năm, chính vì vậy vu giả ngày càng suy vi, trong khi đạo môn đứng đầu là Cung Tiên Đài thì danh vọng mỗi lúc một cao.
Lời nói kia của tư vu khiến trong đám vu giả xôn xao bàn tán, giữa đội ngũ, một thân áo sắc sặc sỡ, Thiếu Vi trầm mặc bước đi, chỉ lặng lẽ lắng nghe.
Trước khi vào kinh, Thiếu Vi đã chuẩn bị đầy đủ tại phủ Vũ Lăng quận vương, tự nhiên hiểu rõ sự khác biệt giữa Cung Tiên Đài và Thần Từ.
Thần Từ là nơi các triều đại đều có từ xưa, còn Cung Tiên Đài thì xuất hiện sau khi hoàng hậu khai quốc của Đại Càn đề xướng đạo pháp, con trai bà – Lưu Thù, cũng chính là đương kim thiên tử – chịu ảnh hưởng sâu sắc, về sau lại đắm chìm trong việc truy cầu thuật trường sinh, mới khiến cung điện này được kiến lập.
Thần Từ do Đại Vu Thần Thái Chúc chưởng quản, còn chủ của Cung Tiên Đài là người trong đạo môn, một bên là vu, một bên là đạo, kẻ trước thuộc về Thái Thường Tự, kẻ sau lại độc lập ngoài cửu khanh, chỉ nghe lệnh thiên tử.
Nguồn gốc vốn khác biệt, đạo lý tu hành cũng không giống nhau. Đạo gia đại để chủ trương thuận theo tự nhiên, tuy vì đế vương suy diễn thiên cơ, nhưng chỉ cầu biến hóa trong giới hạn của thiên ý, không tán thành nghịch thiên hành sự.
Vu giả thì càng coi trọng sự vụ nhân gian và ý chỉ của nhân hoàng, tin tưởng chư thần quỷ quái các lộ, trăm điều không kỵ, nguyên tắc cũng không cao, bởi vậy sinh ra không ít biến cố đến cả đế vương cũng không thể khống chế — vu cổ chú thuật thường gây tai họa, từ khi đại vu thần tiền nhiệm dùng vu chú hãm hại Thái tử Lưu Cố, Nhân Đế liền căm ghét thuật vu chú đến tận xương tủy, hạ lệnh nghiêm cấm cổ độc chú thuật, chỉ cho phép vu giả thực hành tế tự, cầu thần, phòng dịch và bốc thuốc.
protected text
Song đế vương tất nhiên là mâu thuẫn, Nhân Đế một mặt muốn truy cầu đạo môn trường sinh chi pháp, một mặt lại không thể dứt bỏ những khả năng khác mà vu giả có thể mang lại, bất luận là long thể hay quốc vận.
Giờ khắc này, những lời kia của tư vu, không khỏi khiến chư vu giả bất mãn với Cung Tiên Đài, chỉ vì hiện tại Thần Từ không có đại vu thần tọa trấn, Cung Tiên Đài tự cho mình cao hơn một bậc, thực quá kiêu ngạo.
Thiếu Vi bước đi giữa đội ngũ, chỉ cảm thấy bản thân rõ ràng chính là một kẻ nằm vùng phản đồ, bởi nói cho cùng, nàng là theo Khương Phụ học đạo học.
Chỉ là Khương Phụ hành sự phóng túng, chủ trương tùy tâm tùy ý, hơn nữa giữa đạo học và vu thuật nay cũng đã có chỗ giao thoa, ví như hiện nay tổ chức Na nghi, cũng tế lễ cả thần linh Đạo gia.
Cố chấp với một bên tất sẽ bị trói buộc, Thiếu Vi coi việc này như ăn cơm, cái gì cũng nếm thử mới có thể cao lớn khỏe mạnh.
Rốt cuộc nàng không phải đến để truyền bá cái gì, cũng chẳng vì một chữ “đúng” tuyệt đối mà hành sự – nàng đến để giết người.
Không chọn Cung Tiên Đài cao quý, mà chọn nơi này làm một vu giả, chẳng qua là cân nhắc lợi hại thực tế. Mệnh lý tướng số nàng học cũng bình thường, không thể làm một đạo nhân đỉnh cao, huống hồ Cung Tiên Đài là địa bàn của Xích Dương, nàng nếu tùy tiện xông vào, chưa kịp lộ diện đã bị bóp chết rồi.
Vào Cung Tiên Đài thì như vậy, đi những con đường khác cũng chẳng khá hơn, bất kể làm nô hay làm quan, chỉ cần làm một “người”, sinh tử đều nằm trong một lời của Xích Dương. Như gia nô đã nói, đối phương có lực lượng quỷ thần, có thể tùy ý sát “người” nhờ đó.
Cho nên, nàng định sẵn không thể làm “người”, nàng nhất định cũng phải có được thứ tương tự như Xích Dương, phải trở thành quỷ thần mới có thể khắc sát quỷ thần.
Với thân phận vu giả nhập kinh, là lựa chọn tốt nhất của Thiếu Vi. Làm một vu giả hành tẩu nơi nửa sáng nửa tối, bén rễ sinh trưởng thật nhanh tại đây, không cần câu nệ quy tắc thủ đoạn, mới có thể sớm ngày bố trí một đạo trảm quỷ chi trận vì vị tiên sư tôn quý kia trong Cung Tiên Đài.
Tiếng chuông ngọc và ngọc thạch đung đưa va chạm vang lên trong lúc vu giả bước đi, Thiếu Vi giẫm lên thanh âm đinh đinh đang đang ấy, nửa thân người ẩn trong bóng tối mờ mịt, nghiêng đầu nhìn về phía Bắc.
…
Cung Tiên Đài tọa lạc tại chính Bắc Trường An thành, lúc này đèn đuốc sáng trưng, khói hương mịt mù, tựa như một toà tiên cung chân chính.
Trên Đài Quan Tinh, một bóng người áo đen đứng yên lặng, hắn ngẩng đầu nhìn màn đêm, dưới hàng mi trắng tuyết là một đôi đồng tử nhàn nhạt phản chiếu một vì sao đang lóe sáng.
Tinh tượng có biến, rõ ràng là điềm báo Thiên Cơ nhập thế.
Biến chuyển vi tế bên trong, nếu muốn kịp thời nhìn thấu, chỉ có thể đem bí pháp quan tinh của sư môn hắn tu luyện đến cực hạn mới làm được, thiên hạ này chỉ có hai người có khả năng ấy.
“Sư tỷ, nó vốn không nên nhập thế, yên lặng tiêu vong mới là vận mệnh của nó.” Giọng nói thấp thoáng ý châm biếm vang lên từ miệng Xích Dương: “Lòng từ bi nhân hậu của tỷ xưa nay vô ích, chẳng qua chỉ đẩy nó vào một con đường diệt vong càng thêm tàn khốc… Lần này cũng sẽ không ngoại lệ.”
“Sư tỷ, tỷ với ta cứ chờ xem.”
Trên đài quan tinh, trường bào sắc mực theo gió bay lượn, bóng người hòa lẫn vào đêm tối.
…
Tại gian phòng phía sau cùng Cung Tiên Đài, Minh Đan đang mở một chiếc hộp tre vừa được Phùng Tự mang người đến trao trong ngày.
Nàng vui mừng không xiết, lấy ra y phục và trang sức mới trong hộp, chạy đến trước gương thử lên người, trong gương không ngừng phản chiếu khuôn mặt thiếu nữ tràn đầy phấn khích hân hoan.
Thử đến cuối cùng, khuôn mặt trong gương lại đột nhiên hiện vẻ uể oải.
Minh Đan ôm cả đống y váy, quăng lên giường, chỉ cảm thấy dù y phục trang sức kia có đẹp đến đâu, cũng chẳng có dịp nào để mặc ra ngoài, nàng chỉ có thể lén lút khoác lên trong phòng, còn ngày thường vẫn phải như bao người khác, mỗi ngày khoác lên bộ váy áo xanh xám giống hệt nhau, thật đúng là khiến người ta chán ngán.
Đã vào Cung Tiên Đài hai năm, Minh Đan chẳng còn như thuở ban đầu còn cảm thấy áo váy xanh xám kia mang lại hứng thú gì, nàng dần cảm thấy tòa Cung Tiên Đài này là một cái lồng giam, mỗi ngày lặp đi lặp lại trong khuôn khổ, làm những việc khô khan vô vị, chẳng khác nào hành hình.
Nàng bắt đầu mạo muội mơ tưởng đến thế giới phồn hoa bên ngoài, đáng tiếc vẫn phải nhẫn nhịn thêm hai năm nữa.
Trong lúc bụng dạ oán than, Minh Đan tưởng tượng đến cảnh tượng nhận tổ quy tông hai năm sau, trong lòng vừa háo hức, lại không khỏi thấp thỏm.
Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!
Lần trước “cữu phụ” Phùng Tự đến thăm nàng, từng nói “A mẫu” của nàng dạo gần đây dường như có chuyển biến tốt, tuy vẫn còn điên loạn mơ hồ, nhưng không còn thường xuyên thất kiểm như trước nữa.
Nghe xong lời ấy, trong lòng Minh Đan chẳng yên, song bên ngoài vẫn phải làm bộ tỏ ra mừng rỡ, lại lập tức hỏi han Phùng Tự có thể mang sinh thần bát tự của A mẫu đến hay không, nàng muốn tại Cung Tiên Đài vì A mẫu cầu phúc, mong bà sớm khỏi bệnh.
Phùng Tự đối với nàng xưa nay rất thân thiện, cầu gì cũng đáp ứng. Thuở ban đầu “tái ngộ” tại Đông Lai quận, vị cữu phụ ôn hoà này chưa từng nghi ngờ nàng, luôn khiến nàng cảm thấy rất an lòng.
Nghĩ tới đây, Minh Đan vội chạy lại bên hộp tre, cúi người lục lọi, quả nhiên tìm được một mảnh lụa cuộn tròn. Mở ra xem, chỉ thấy trên ấy ghi chép một đạo bát tự sinh thần, tất nhiên là của Phùng Châu rồi.
Minh Đan nhìn bát tự trong tay, ánh mắt rối ren bất định.
Những gì nàng học ở Cung Tiên Đài đều là đạo học chính thống, phù lục các loại cũng chỉ dùng để trấn tà trừ quỷ, hoàn toàn không dính dáng đến việc tổn thương sinh linh.
Ánh mắt Minh Đan khẽ lóe, lập tức nghĩ tới vu giả trong Thần Từ, nghe nói người ở nơi đó tinh thông những thuật pháp tà dị không thể công khai…
Nhưng nàng sẽ tìm người bên đó giúp mình bằng cách nào? Hơn nữa nếu chuyện này bị bại lộ, về tư thì sẽ khiến người nhà họ Phùng nghi ngờ thân phận nàng, về pháp lại là đại tội bị xử trảm.
Minh Đan nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc không thể hạ quyết tâm, đành tạm thời cất mảnh lụa kia đi.
Nàng vừa cất lụa vào hộp trang điểm, vừa thầm oán trách: năm đó Phùng Châu rõ ràng trọng thương đến thế, vì sao còn có thể sống sót, mà lại sống điên điên khùng khùng, con gái thật thì đã sớm chết rồi, một mình sống sót chẳng qua là hành hạ, vừa khổ mình, vừa khiến người bên cạnh cũng phải lo lắng bất an…
Đúng lúc ấy, gió đêm bỗng thổi qua khiến cửa sổ phát ra âm thanh khe khẽ, Minh Đan giật nảy người, trong lòng hoang mang, bất chợt nghĩ đến điều gì, liền lấy ra một xấp tiền giấy mua nhờ người mang về hôm qua, ôm lấy chậu đồng chạy ra sau phòng không người.
Nàng châm lửa đốt đồ tế trong chậu, một tay ném tiền giấy vào ngọn lửa, miệng thì thầm: “Ngươi nhận lấy số tiền này, sớm đi đầu thai mới là chính đạo, kiếp sau nói không chừng còn có thể đầu thai vào nhà tốt…”
Nàng còn chưa dứt lời, một luồng gió lạnh đột nhiên cuốn tới, khiến lửa bùng cháy dữ dội, Minh Đan thất thanh hét lên, ngã ngồi xuống đất, vội vàng dập ngọn lửa bám trên váy áo, đợi đến khi lửa được dập tắt, mới thấy bộ y phục mới toanh đã bị cháy thủng một lỗ, nhất thời vừa đau lòng vừa sợ hãi, vội vã rời khỏi nơi đó.
Minh Đan vừa chạy, vừa nghĩ: ban ngày đến dọn dẹp lại vậy, dù sao khi nhờ người mua tiền giấy nàng cũng nói là để tế dưỡng mẫu.
Lại nghĩ, con ác quỷ này thật chẳng biết điều! Hay là nói, ác quỷ kia thật sự đạo hạnh thâm sâu, thậm chí có thể cảm ứng được nàng có ý bất lợi với Phùng Châu? Nhưng nàng cũng chỉ nghĩ thôi, đâu đã thật sự ra tay!
Minh Đan hoảng hốt bất an, suốt cả đêm không dám tắt đèn.
Mà kẻ nàng gọi là “ác quỷ” – chính là Thiếu Vi, đêm nay rời khỏi Thần Từ, quả thực như một bóng quỷ đen u linh lặng lẽ lướt vào bóng đêm.
Thần Từ nằm ở phương Nam, Thiếu Vi mang theo Chiêm Chiêm hướng về phương Nam xa hơn mà thám thính.
Ngày trước khi vào thành, Thiếu Vi từng nghỉ chân ở dịch xá qua đêm, tại đó nhận được một mảnh lụa, trên ấy vẽ một tấm bản đồ đơn sơ tới mức thô lậu, may thay phạm vi không lớn, từ Thần Từ hướng Tây Nam, ước chừng hai ba chục dặm là tới điểm cuối trên bản đồ.
Chạy đêm hai ba chục dặm, đối với Thiếu Vi chẳng phải việc khó. Nhưng xuyên phố luồn ngõ tìm đường, lại phải né tránh binh sĩ tuần đêm, quả thật hao tốn thời gian. Dù từng sống ở Trường An, song Thiếu Vi hầu như chưa từng ra khỏi cửa, đối với nội thành không thể coi là quen thuộc, giờ phút này chẳng khác nào một con hồ ly lạ đất, lặng lẽ thăm dò trong bóng tối với đầy cảnh giác.
Tuy nhiên, nàng còn phải chừa thời gian trở về Thần Từ, vì thế đêm nay chỉ dò đường sơ bộ, rồi kịp thời quay về, dự định tối mai sẽ tiếp tục đi một chuyến nữa.
Về đến phía sau Thần Từ, Thiếu Vi leo lên một cây cổ thụ cao lớn, đạp lên thân cây nhảy về phía tường thành cao vút.
Cây và tường còn cách một đoạn không ngắn, dù có chút thân thủ, muốn nhảy qua cũng chẳng dễ, huống hồ tường cao mà hẹp, không chỉ cần kỹ thuật mà còn cần gan lớn.
Trong đêm đen tĩnh mịch, Thiếu Vi tựa như một con linh miêu thực thụ, thân pháp nhẹ nhàng vô thanh, đáp xuống đầu tường mà không phát ra tiếng động, song nàng chưa vội trượt người vào trong viện.
Một lát sau, Thiếu Vi mới đứng thẳng dậy, dọc theo đỉnh tường bước nhanh vài bước, rồi trèo lên nóc một tòa gác cao.
Nàng phục người bên sườn mái ngói, từ sau mái hiên nhô ra nửa cái đầu, ánh mắt hướng về trung tâm Trường An nơi ánh đèn sáng trưng.
Nàng không thể phân biệt được đâu là đèn từ phủ Lỗ hầu, nhưng nàng biết, phủ Lỗ hầu nằm trong số đó.
Gió đêm tháng Giêng vẫn sắc lạnh như dao, Thiếu Vi nằm úp trên mái gác cao, lặng lẽ nhìn một lúc lâu.
Khối ánh sáng ấy là nơi phồn hoa nhất Trường An, chỉ xếp sau hoàng cung, lầu các cao ngất, đèn lửa ấm áp, A mẫu ở đó, giờ phút này hẳn là bình yên, không sao chứ?
Chiêm Chiêm không biết Thiếu Vi đang nhìn gì, tò mò trèo từ vai nàng lên đầu, cùng nàng ngóng nhìn về phía đèn sáng kia.
Thiếu Vi đội lấy chú chim béo tròn trên đầu, lại nhìn thêm chốc lát, rồi mới tung người lao vào bóng tối.
…
Tới đêm hôm sau, khi bóng đêm lại một lần nữa phủ xuống dày đặc, Thiếu Vi xoay mình trên giường, thấy hai vu nữ kia đã ngủ say, liền lặng lẽ rời giường. Trước khi đi, như đêm qua, nàng tiện tay ném hai viên dược hoàn vào chậu than.
Có kinh nghiệm từ đêm trước, lần này hành động của Thiếu Vi càng thêm thuần thục. Nàng lần theo chỉ dẫn trên mảnh lụa, cuối cùng đến được một nơi ánh đèn vô cùng lưa thưa, phóng mắt nhìn ra chỉ thấy mấy gian nhà thấp lùn cũ kỹ, xung quanh chẳng hiểu sao lại âm u lạnh lẽo.
Thiếu Vi từng nhà từng nhà dò xét, thân ảnh trong đêm tối lên lên xuống xuống, cuối cùng dừng bước trước một tiểu viện dán một mảnh giấy thô bằng vải gai nơi cánh cổng.
Vì lo nhầm nhà, quấy nhiễu người lạ, Thiếu Vi không dám mạo muội gõ cửa, chỉ nhẹ nhàng trèo tường vào.
Vừa đặt chân xuống đất, nàng lập tức ngửi thấy một mùi cơm canh thơm ngát.
Không chút chần chừ, nàng lập tức chạy về phía gian bếp đang sáng đèn.
Lần này nàng không còn che giấu tiếng bước chân, vì vậy chẳng mấy chốc đã có một bóng người xám xịt từ nhà bếp bước ra, tay cầm một cây gậy lửa cháy dở, đứng ở cửa nhìn lại.
Ngay sau đó, một bóng người khác chen ra từ trong bếp, hắn vừa thấy Thiếu Vi, liền cất giọng: “Thiếu chủ, cơm sắp xong rồi!”
Nhìn Mặc Ly dường như không hề có khái niệm gì về sự đổi dời của thời gian, Thiếu Vi thoáng ngây người, trong lòng bỗng dâng lên một ảo giác như thể chưa từng rời xa nhau.
Nàng vô thức nhìn về phía phòng chính, thậm chí còn sinh ra cảm giác như thể giây tiếp theo Khương Phụ sẽ vừa ngáp vừa vươn vai bước ra, càu nhàu sao nàng giờ này mới về.
Cơn thất thần ấy chỉ thoáng qua trong chớp mắt, giây kế tiếp, Thiếu Vi vội hỏi: “Thanh Ngưu đâu rồi?”
Bạn có thể dùng phím mũi tên ← → hoặc WASD để lùi/sang chương.
Báo lỗi Bình luận
Truyện Hot Mới
Danh sách chương









