“Trước tiên đưa đến cung Tiên Đài, cũng chưa hẳn là điều xấu.” Thân Đồ phu nhân trầm ngâm nói: “Châu nhi hiện nay không còn nhận ra ai, nếu để đứa trẻ kia ở lại trong phủ, mà lại không cho nó gặp mẫu thân mình, e rằng sẽ khiến nó bất an, hoang mang và thấy cô lập.”
Điều này Lỗ hầu cũng đồng tình, gật đầu nói: “Đạo pháp tu học tại cung Tiên Đài phần nhiều là để ngộ lý trời đất tự nhiên. Đứa trẻ ấy đã chịu khổ sở như vậy, nếu có thể nhân cơ hội này tu thân dưỡng tính, tĩnh tâm điều khí, cũng là điều tốt. Trong bốn năm tới, cứ quan sát thêm, nếu bệnh tình của Châu nhi có thể thuyên giảm, đến khi ấy mẫu tử gặp lại, cũng coi như một kết cuộc tốt đẹp, tuy chậm nhưng trọn vẹn.”
Thân Đồ phu nhân gật đầu: “Đúng vậy, nếu được như thế, là thiện quả tốt nhất…”
Lỗ hầu thấy giữa mày thê tử còn vướng điều gì, bèn hỏi: “Phu nhân còn có điều băn khoăn chăng?”
Giờ đây chỉ có hai phu thê trò chuyện riêng, Thân Đồ phu nhân không giấu giếm: “Tìm bao lâu, mọi thứ đều khớp, lý ra không thể sai… nhưng hiện nay Đậu Đậu không thể tự mình xác nhận, trong lòng ta vẫn còn một chút nghi hoặc.”
Bà nói thẳng: “Cho dù hiện tại đứa trẻ này là ai đi nữa, đừng nói là chẳng giống Đậu Đậu, dù có tám phần tương tự, bao nhiêu bằng chứng đặt ra trước mắt, chỉ cần Đậu Đậu còn chưa tỉnh táo để nhận ra con mình, thì lòng ta cũng không thể hoàn toàn tin tưởng.”
“Dù rằng tâm tư ấy với phu thê ta là điều tự nhiên, nhưng đặt lên người đứa trẻ này thì lại quá nghiệt ngã. Chính là chúng ta chủ động tìm kiếm, nay đã có đủ bằng chứng, sao lại vì lòng nghi ngờ mà để một đứa nhỏ phải gánh lấy?”
Thân Đồ phu nhân thở dài: “Huống chi, mọi thứ liên quan đến nơi ấy đều là cấm kỵ đối với Châu nhi, ngay cả nhắc tới cũng không thể. Nếu ép nàng gặp đứa trẻ, lại bị kích động mà nói những lời không thể tin cậy, thì làm sao dựa vào đó mà kết luận được điều gì? Rốt cuộc cũng phải chuẩn bị cho khả năng Châu nhi cả đời không thể tỉnh lại.”
Lỗ hầu hoàn toàn hiểu được tâm trạng ấy. Ông trầm ngâm chốc lát rồi nói: “Đã khổ công tìm kiếm, chứng cứ rõ ràng, vì đứa trẻ, ta và bà phải nhận lấy. Chuyện này cũng đã được bàn bạc từ trước khi bắt đầu. Nhưng để cẩn trọng, trước khi Châu nhi có dấu hiệu tỉnh táo, ta sẽ ngầm sai người điều tra thêm – chuyện này chỉ có ta và bà biết.”
protected text
Thân Đồ phu nhân gật đầu: “Đó là điều đúng đắn.”
Lỗ hầu: “Đã muốn nhận, vậy thân phận công khai của đứa trẻ thì sao?”
Người được tìm kiếm đã mất tích suốt một hai năm, chuyện này đã từng nhiều lần bàn bạc.
Trước đây, Phùng Tự từng đề xuất, nếu tìm được đứa nhỏ, có thể nhận làm con của hắn – tức cữu phụ. Như vậy vừa có thể danh chính ngôn thuận nuôi dạy như cốt nhục nhà họ Phùng, vừa tránh được miệng lưỡi thế gian.
Thời nay, chuyện nữ tử tái giá không còn là điều lạ, nhưng một tiểu thư phủ hầu mất tích nhiều năm, nay mang một đứa con trở về, dẫu không đến mức bị phỉ báng, cũng không tránh được ánh mắt dòm ngó. Nhất là hiện tại, Phùng Châu lại không thể chịu thêm bất kỳ kích động nào.
Đề xuất của Phùng Tự vốn rất thực tế, cũng hợp tình hợp lý.
“Phùng Tự xưa nay làm việc cẩn trọng, coi trọng thể diện gia môn, chuyện rắc rối nếu tránh được sẽ tránh, điều đó không sai.” Thân Đồ phu nhân nói: “Nhưng mấy ngày nay ta đã nghĩ đi nghĩ lại…”
“Nếu Châu nhi cả đời như thế, ta sẽ để người chăm sóc nàng suốt đời trong Thược Tiên Cư, bên ngoài dù có lời ong tiếng ve gì, nàng cũng không thể nghe thấy.”
“Nếu Châu nhi có thể bình phục, ta tin Đậu Đậu của ta – đã có thể sống sót trong ma quật ấy – thì càng không thèm để tâm mấy lời thiên hạ.”
“Về phần đứa trẻ ấy, chịu đựng bao năm khổ cực, hẳn trong lòng cũng đầy bất an. Nó biết ai là mẫu thân mình, nhưng mẫu thân lại không nhận ra mình. Nếu lại không cho nó nhận mẫu thân ruột, mà bắt nó gọi người khác là mẫu thân… thì quả thực là quá tàn nhẫn. Nếu đã tìm được mà lại không nhận thân phận thật sự của nó, thì chi bằng đừng tìm về còn hơn.”
Lỗ hầu nghe xong, nói: “Ý nàng là——”
“Nhận.” Thân Đồ phu nhân giọng không lớn nhưng đầy cương quyết: “Đã có một đứa trẻ như thế tồn tại, thì phải nhận về đúng như thân phận vốn có.”
Lỗ hầu nhìn thê tử, gật đầu nói: “Được, nghe theo phu nhân.”
Thê tử ông xuất thân thế gia vọng tộc, làm việc quyết đoán, có kiến thức và bản lĩnh. Thuở trước theo tiên đế dấy binh khởi nghĩa, ông chỉ biết đánh trận, còn việc hậu phương đều do phu nhân quyết đoán. Ngay đến chuyện học chữ, cũng là do bà dạy ông.
Chỉ là từ khi mất con gái, bà đổ bệnh, chán nản, bao năm nay không màng đến sự vụ gì. Nay con gái trở về, thần sắc và ý chí xưa kia cũng dần hồi phục.
Trong lòng Lỗ hầu dâng lên muôn phần xúc động, khóe mắt bất giác ươn ướt. Vì phần nghi ngờ cuối cùng của thê tử, ông sẽ tiếp tục cho người âm thầm điều tra về đứa bé tên “Thiếu Vi” ấy… Còn người đã cứu sống Châu nhi, lại càng phải tìm. Bởi ân nhân ấy không chỉ cứu một mình Châu nhi, mà cứu cả mạng sống của vợ chồng ông.
Nếu năm đó Trường Bình hầu đưa về không phải là một Phùng Châu còn sống, thì có lẽ thê tử ông đã không gượng nổi, mà bà không còn, ông cũng khó lòng sống tiếp.
Ân tình ấy, càng nghĩ càng sâu. Vậy nên, dù có phải tìm khắp trời đất, ông cũng phải tìm ra người ấy.
“Trước mắt mà nói, có thể tìm được đứa nhỏ ấy, vẫn là một điều tốt.” Thân Đồ phu nhân đưa tay, mỉm cười: “Đi gặp Đậu Đậu đi. Việc này không thể nói rõ với nó, nhưng đi thăm nó một chút.”
Lỗ hầu dịu dàng đáp lời, đỡ cánh tay thê tử, cùng bà đến Thược Tiên Cư.
Trong Thược Tiên Cư người hầu không nhiều, ngoài Bội ra chỉ có hai nha hoàn, cùng một phụ nhân từng nuôi dưỡng Phùng Châu từ nhỏ.
Phùng Châu rất sợ bị quá nhiều người vây quanh, lại càng sợ ánh mắt nhìn vào những chỗ thân thể nàng đã bị tổn thương.
Tỉnh táo và điên loạn trong nàng là trạng thái đảo ngược. Khi tỉnh, nàng lại chìm trong sợ hãi, thậm chí tự hại mình. Còn vào lúc tưởng như yên tĩnh, thực ra đầu óc nàng đang mịt mờ hỗn độn, chẳng biết nay là ngày nào, đêm nào.
Lỗ hầu từng nghĩ, nếu con gái mãi sống trong sự “yên lặng” lãng quên ấy, chưa hẳn đã là điều xấu. Nhưng thê tử ông vẫn nhất quyết chạy chữa khắp nơi. Bà nói, Đậu Đậu từ nhỏ đã thông minh hiền thục, tuyệt đối không cam lòng bị giam cầm trong cõi hỗn mang như vậy. Làm mẹ, bà không thể buông tay, phải nắm chặt lấy nàng, kéo nàng ra khỏi u mê.
Bao năm qua, phủ hầu mời danh y đến trị bệnh cho Phùng Châu, ít nhất cũng vài chục người, thậm chí cả trăm. Ngày ngày nàng phải uống thuốc, không chịu uống thì Thân Đồ phu nhân lại nhẹ nhàng dỗ dành.
Ngoài ra, mỗi ngày Thân Đồ phu nhân đều cùng con nói chuyện, đùa giỡn. Danh y đều căn dặn, với người từng chịu tổn thương nặng, phải khiến họ cảm thấy an toàn, thư thái, và không ai thích hợp để mang lại điều đó hơn một người mẹ.
…
Trong Thược Tiên Cư, chính sảnh bày mấy rương gỗ đã mở nắp. Bội dìu Phùng Châu đến xem bên trong.
Trong rương có vài xấp lụa là thượng hạng, những quyển du ký trên trúc giản mà Phùng Châu từng yêu thích thuở nhỏ, vài món đồ văn phòng tứ bảo, thậm chí còn có một con diều giấy rực rỡ.
Lỗ hầu vừa bước đến cửa điện liền trông thấy cảnh này, khẽ hỏi a hoàn bên cạnh: “Những thứ này từ đâu đến?”
A hoàn đáp thật nhỏ: “Bẩm hầu gia, là Nghiêm tướng quốc mới sai người mang đến.”
Lỗ hầu không muốn để Nghiêm tướng quốc gặp lại nữ nhi. Nghiêm tướng quốc đã nhiều lần xin được diện kiến, Lỗ hầu bất đắc dĩ mới cho phép hắn thỉnh thoảng gửi ít đồ sang.
Không ngờ đã hai năm trôi qua, vị tướng quốc ấy vẫn canh cánh trong lòng, đến cả đêm Trừ tịch cũng đích thân đến tặng đồ mong làm Phùng Châu vui vẻ.
Lỗ hầu thở dài, cho người đi dò xem, mới biết xe ngựa của Nghiêm tướng quốc vẫn còn đậu bên ngoài cửa hông phủ.
Bên trong cỗ xe dừng ngoài cửa, than trong lò sưởi đã tắt từ lâu.
Nghiêm tướng quốc, tức Nghiêm Miễn, vận thường phục màu chàm sẫm, ngồi xếp bằng trong xe, lặng lẽ nhìn về phía tường viện và lầu các của phủ Lỗ hầu, nơi ánh mắt hướng đến chính là Thược Tiên Cư – dù hắn không thể nhìn thấy nơi ấy.
Trời đã tối đen, khắp nơi đèn hoa rực rỡ, tiếng pháo chúc tết vang dội không ngừng.
Than nguội, gió lạnh len vào, trong xe đã đầy hơi lạnh, nhưng người hầu không dám lên tiếng giục.
Truyện được dịch bởi team rừng truyện chấm com!!!
Chẳng bao lâu, cánh cửa bên phủ hầu hé mở, một a hoàn bước ra, tay cầm đèn lồng, cúi người hành lễ trước xe ngựa: “Hầu gia và phu nhân thỉnh tướng quốc vào phủ một gặp.”
Trong xe, ánh mắt Nghiêm Miễn lập tức sáng lên, chưa chờ thị vệ lên tiếng, hắn đã tự tay vén màn xe, nhanh chóng bước xuống.
Lời mời ấy, là do Thân Đồ phu nhân quyết định.
Tình cảm lưu lại từ thời niên thiếu vốn luôn rực rỡ, sắc màu tươi sáng ấy khó lòng phai nhạt. Nay trải qua mất rồi lại tìm được, càng khiến người ta cố chấp hơn. Nếu có thể gặp lại một lần, tận mắt thấy khoảng cách giữa hiện thực và ký ức, có lẽ cũng dễ buông bỏ hơn, không còn lặng lẽ chấp niệm.
Nhưng chỉ là “một gặp”, không phải “tái ngộ”. Thân Đồ phu nhân không dám để con gái dao động cảm xúc quá nhiều, càng không muốn thấy trong ánh mắt kẻ khác lộ ra bất kỳ thương hại nào làm tổn thương lòng tự trọng của con.
…
Phía sau viện nơi Phùng Châu ở có một cánh cửa nhỏ thông ra một khu vườn. Trong vườn có thủy tạ, hồ sen nuôi cá. Tứ phía thủy tạ được che bằng rèm trúc buông mành lụa mỏng.
Mỗi khi hè đến, Phùng Châu thích nhất ra đó hóng mát đọc sách – là nơi nàng thường xuyên lui tới.
Giờ đây trong thủy tạ không thắp đèn, rèm trúc vén lên, người trong tạ cách một tầng lụa mỏng như sương mù, nhìn thấy bóng hình đã cách biệt hơn mười năm.
Dáng người ấy vẫn thanh mảnh như xưa, dẫu khoác áo lông hồ ly vẫn khó che giấu vẻ gầy gò, có thị nữ dìu bước đi rất chậm, nhưng vẫn dễ nhận ra nàng đi lại có tật ở một chân.
Dù ngăn bởi một lớp mành, cũng thấy gương mặt ấy đã không còn thanh xuân. Dưới ánh đèn, làn da nàng loang lổ hằn vết thời gian, cả người tựa đóa sen tàn giữa đông, khô khốc yếu ớt, chỉ còn một cọng sen cố gắng chống đỡ, như thể chỉ cần một cơn gió sẽ gãy gục trong hồ lạnh.
Nhưng trên gương mặt in hằn vết đau ấy, thần thái lại ngây ngô, mơ hồ như trẻ thơ. Nàng rướn đầu nhìn về phía thủy tạ, khẽ hỏi: “A mẫu, trong thủy tạ là ai vậy?”
Giọng nói đầy sợ sệt, tuy có nghi hoặc nhưng chẳng dám tự tiện tiến tới.
Nghiêm Miễn suýt bước ra, lại bị Lỗ hầu đưa tay cản lại.
Thân Đồ phu nhân quay sang phía tạ tối, nói: “Chắc là phụ thân con đấy.”
Nghe vậy, Phùng Châu muốn bước tới, nhưng bị Thân Đồ phu nhân giữ lại: “Đừng đi, gần hồ có băng, trơn trượt lắm… Chúng ta ở vườn ngắm đèn là được rồi, được không?”
Phùng Châu nghe đến chữ “trơn”, lập tức rụt chân què lại.
Nhưng lúc xoay người, nàng vẫn vô thức ngoái đầu nhìn về thủy tạ, đột nhiên hỏi: “A mẫu, vì sao Nghiêm Khuyến Sơn chỉ gửi đồ, mà không đến gặp?”
Nghiêm Miễn, biểu tự Khuyến Sơn.
Hai người từng thanh mai trúc mã, tình đầu ý hợp, sắp sửa đính ước. Trí nhớ của Phùng Châu giờ rõ ràng vẫn dừng ở đoạn đó.
Nghe thấy cái tên thân mật ấy, trong thủy tạ, Nghiêm Khuyến Sơn – người nay đã chẳng còn trẻ – đôi mắt lập tức ngân lệ.
“Ta nhớ rồi, các nàng nói hôm nay là ngày mùng Một…” Phùng Châu khẽ lẩm bẩm: “Vậy chắc là chàng về bản gia ở quận Hoằng Nông rồi.”
Nàng tiếp: “A mẫu, mấy hôm trước con còn cãi nhau với chàng nữa.”
Thân Đồ phu nhân thuận lời hỏi: “Vì chuyện gì mà cãi nhau?”
“Con vẽ mặt điểu diệp – kiểu mới nhất đấy.” Phùng Châu ngừng bước, bắt đầu tỉ mỉ kể lại: “Con ngồi soi gương vẽ rất lâu, mà chàng thấy lại bảo như có hai con muỗi đập chết trên mặt, bắt con tẩy ngay, không thì chàng sẽ không cùng con đi du xuân!”
Cái gọi là “điểu diệp”, là kiểu trang điểm phổ biến bấy giờ: sau khi phủ phấn trắng lên hai gò má, dùng sắc đỏ nhạt để nhuộm thành hai mảng tròn, sau đó trong hai mảng ấy vẽ đôi chim nhỏ đối xứng – chim phải rất nhỏ, lại dùng bút thanh mảnh và mực lam sẫm, cực kỳ khó vẽ.
Phùng Châu vì bị trêu chọc chuyện “điểu diệp” mà giận dỗi mấy ngày không thèm để ý tới đối phương.
Những giận hờn nhỏ nhặt thuở thiếu thời, nàng nhớ rất rõ. Dù ký ức rối loạn, thời gian lẫn lộn, nhưng nhắc lại vẫn còn giận dỗi, đủ thấy trong lòng nàng vẫn ghi khắc.
Trong thủy tạ, Nghiêm tướng quốc bật cười khi nghe đến đây, nhưng trong mắt đã ngấn lệ.
“Hắn thì biết gì về điểu diệp, lại còn dám lắm lời…” Thân Đồ phu nhân dắt tay con gái đi tới, mỉm cười phụ họa: “Đúng là đàn gảy tai trâu, lần sau con ta đừng họa cho hắn xem nữa.”
Phùng Châu bật cười, gật đầu đồng tình, rất nhanh đã ném chuyện ấy ra sau đầu, chuyển sự chú ý sang chiếc hoa đăng treo phía trước.
Chiếc hoa đăng ấy lấy tre làm khung, lụa làm da, chế thành hình con hổ sống động như thật.
Con hổ phát sáng ấy vừa uy phong lẫm liệt, lại mang chút vẻ ngây ngốc đáng yêu, khiến Phùng Châu cảm thấy thân thiết vô cùng. Nàng chỉ tay nói: “A mẫu, con muốn chiếc đèn đó! Con muốn mang về cho, cho…”
Lời nói đột nhiên nghẹn lại, vẻ mặt đầy nghi hoặc—nàng… muốn mang cho ai? Lại nhìn chiếc đèn hình hổ kia, ánh mắt Phùng Châu bỗng hoảng hốt, né tránh, thân thể run rẩy không kiểm soát được. Bội lập tức phát hiện, vội vàng đỡ nàng: “Tiểu thư!”
Nhưng đã không kịp—Phùng Châu bất ngờ gào thét trong đau đớn, giãy giụa lao đi, tiếng thét vang vọng cả đình viện. Nghiêm tướng quốc trong thủy tạ lập tức muốn xông tới, lại bị Lỗ hầu ngăn lại.
“Đây là chuyện thường rồi, tướng quốc.” Lỗ hầu nghiêm giọng nói.
Nghiêm tướng quốc run rẩy, siết chặt cánh tay Lỗ hầu.
Nếu đây là “chuyện thường”, thì con gái Lỗ hầu đã phải chịu đựng bao nhiêu khổ sở mới thành ra như thế?
Phùng Châu cả đêm không yên, co rút trong chăn, tiếng pháo bên ngoài nổ bao lâu, nàng khóc bấy lâu. Không ai biết nàng khóc vì điều gì, chính nàng cũng không nói rõ được.
…
Sau đêm Trừ tịch, đến rằm tháng Giêng, đoàn xe ngựa từ Đông Lai quận trở về đã gấp rút vào Trường An.
Lỗ hầu và phu nhân, cùng Phùng Tự, rời phủ đến gặp đứa trẻ sắp được đưa đến cung Tiên Đài.
Hôm nay trong cung Tiên Đài thiết lập đàn tế, tất cả những ai có cơ duyên với Thiên Cơ tinh đều phải có mặt, không thể trì hoãn. Đứa trẻ này không kịp trở về phủ gặp mặt, cần phải nhanh chóng nhập cung.
Từ trên xe bước xuống là một thiếu nữ gầy gò, có lẽ do sống lâu ở làng chài ven biển, nên da nàng sạm đi vì nắng gió. Gương mặt hơi tròn, mày mắt đen nhánh sáng rõ, thần thái thoáng chút bất an.
Điều này Lỗ hầu cũng đồng tình, gật đầu nói: “Đạo pháp tu học tại cung Tiên Đài phần nhiều là để ngộ lý trời đất tự nhiên. Đứa trẻ ấy đã chịu khổ sở như vậy, nếu có thể nhân cơ hội này tu thân dưỡng tính, tĩnh tâm điều khí, cũng là điều tốt. Trong bốn năm tới, cứ quan sát thêm, nếu bệnh tình của Châu nhi có thể thuyên giảm, đến khi ấy mẫu tử gặp lại, cũng coi như một kết cuộc tốt đẹp, tuy chậm nhưng trọn vẹn.”
Thân Đồ phu nhân gật đầu: “Đúng vậy, nếu được như thế, là thiện quả tốt nhất…”
Lỗ hầu thấy giữa mày thê tử còn vướng điều gì, bèn hỏi: “Phu nhân còn có điều băn khoăn chăng?”
Giờ đây chỉ có hai phu thê trò chuyện riêng, Thân Đồ phu nhân không giấu giếm: “Tìm bao lâu, mọi thứ đều khớp, lý ra không thể sai… nhưng hiện nay Đậu Đậu không thể tự mình xác nhận, trong lòng ta vẫn còn một chút nghi hoặc.”
Bà nói thẳng: “Cho dù hiện tại đứa trẻ này là ai đi nữa, đừng nói là chẳng giống Đậu Đậu, dù có tám phần tương tự, bao nhiêu bằng chứng đặt ra trước mắt, chỉ cần Đậu Đậu còn chưa tỉnh táo để nhận ra con mình, thì lòng ta cũng không thể hoàn toàn tin tưởng.”
“Dù rằng tâm tư ấy với phu thê ta là điều tự nhiên, nhưng đặt lên người đứa trẻ này thì lại quá nghiệt ngã. Chính là chúng ta chủ động tìm kiếm, nay đã có đủ bằng chứng, sao lại vì lòng nghi ngờ mà để một đứa nhỏ phải gánh lấy?”
Thân Đồ phu nhân thở dài: “Huống chi, mọi thứ liên quan đến nơi ấy đều là cấm kỵ đối với Châu nhi, ngay cả nhắc tới cũng không thể. Nếu ép nàng gặp đứa trẻ, lại bị kích động mà nói những lời không thể tin cậy, thì làm sao dựa vào đó mà kết luận được điều gì? Rốt cuộc cũng phải chuẩn bị cho khả năng Châu nhi cả đời không thể tỉnh lại.”
Lỗ hầu hoàn toàn hiểu được tâm trạng ấy. Ông trầm ngâm chốc lát rồi nói: “Đã khổ công tìm kiếm, chứng cứ rõ ràng, vì đứa trẻ, ta và bà phải nhận lấy. Chuyện này cũng đã được bàn bạc từ trước khi bắt đầu. Nhưng để cẩn trọng, trước khi Châu nhi có dấu hiệu tỉnh táo, ta sẽ ngầm sai người điều tra thêm – chuyện này chỉ có ta và bà biết.”
protected text
Thân Đồ phu nhân gật đầu: “Đó là điều đúng đắn.”
Lỗ hầu: “Đã muốn nhận, vậy thân phận công khai của đứa trẻ thì sao?”
Người được tìm kiếm đã mất tích suốt một hai năm, chuyện này đã từng nhiều lần bàn bạc.
Trước đây, Phùng Tự từng đề xuất, nếu tìm được đứa nhỏ, có thể nhận làm con của hắn – tức cữu phụ. Như vậy vừa có thể danh chính ngôn thuận nuôi dạy như cốt nhục nhà họ Phùng, vừa tránh được miệng lưỡi thế gian.
Thời nay, chuyện nữ tử tái giá không còn là điều lạ, nhưng một tiểu thư phủ hầu mất tích nhiều năm, nay mang một đứa con trở về, dẫu không đến mức bị phỉ báng, cũng không tránh được ánh mắt dòm ngó. Nhất là hiện tại, Phùng Châu lại không thể chịu thêm bất kỳ kích động nào.
Đề xuất của Phùng Tự vốn rất thực tế, cũng hợp tình hợp lý.
“Phùng Tự xưa nay làm việc cẩn trọng, coi trọng thể diện gia môn, chuyện rắc rối nếu tránh được sẽ tránh, điều đó không sai.” Thân Đồ phu nhân nói: “Nhưng mấy ngày nay ta đã nghĩ đi nghĩ lại…”
“Nếu Châu nhi cả đời như thế, ta sẽ để người chăm sóc nàng suốt đời trong Thược Tiên Cư, bên ngoài dù có lời ong tiếng ve gì, nàng cũng không thể nghe thấy.”
“Nếu Châu nhi có thể bình phục, ta tin Đậu Đậu của ta – đã có thể sống sót trong ma quật ấy – thì càng không thèm để tâm mấy lời thiên hạ.”
“Về phần đứa trẻ ấy, chịu đựng bao năm khổ cực, hẳn trong lòng cũng đầy bất an. Nó biết ai là mẫu thân mình, nhưng mẫu thân lại không nhận ra mình. Nếu lại không cho nó nhận mẫu thân ruột, mà bắt nó gọi người khác là mẫu thân… thì quả thực là quá tàn nhẫn. Nếu đã tìm được mà lại không nhận thân phận thật sự của nó, thì chi bằng đừng tìm về còn hơn.”
Lỗ hầu nghe xong, nói: “Ý nàng là——”
“Nhận.” Thân Đồ phu nhân giọng không lớn nhưng đầy cương quyết: “Đã có một đứa trẻ như thế tồn tại, thì phải nhận về đúng như thân phận vốn có.”
Lỗ hầu nhìn thê tử, gật đầu nói: “Được, nghe theo phu nhân.”
Thê tử ông xuất thân thế gia vọng tộc, làm việc quyết đoán, có kiến thức và bản lĩnh. Thuở trước theo tiên đế dấy binh khởi nghĩa, ông chỉ biết đánh trận, còn việc hậu phương đều do phu nhân quyết đoán. Ngay đến chuyện học chữ, cũng là do bà dạy ông.
Chỉ là từ khi mất con gái, bà đổ bệnh, chán nản, bao năm nay không màng đến sự vụ gì. Nay con gái trở về, thần sắc và ý chí xưa kia cũng dần hồi phục.
Trong lòng Lỗ hầu dâng lên muôn phần xúc động, khóe mắt bất giác ươn ướt. Vì phần nghi ngờ cuối cùng của thê tử, ông sẽ tiếp tục cho người âm thầm điều tra về đứa bé tên “Thiếu Vi” ấy… Còn người đã cứu sống Châu nhi, lại càng phải tìm. Bởi ân nhân ấy không chỉ cứu một mình Châu nhi, mà cứu cả mạng sống của vợ chồng ông.
Nếu năm đó Trường Bình hầu đưa về không phải là một Phùng Châu còn sống, thì có lẽ thê tử ông đã không gượng nổi, mà bà không còn, ông cũng khó lòng sống tiếp.
Ân tình ấy, càng nghĩ càng sâu. Vậy nên, dù có phải tìm khắp trời đất, ông cũng phải tìm ra người ấy.
“Trước mắt mà nói, có thể tìm được đứa nhỏ ấy, vẫn là một điều tốt.” Thân Đồ phu nhân đưa tay, mỉm cười: “Đi gặp Đậu Đậu đi. Việc này không thể nói rõ với nó, nhưng đi thăm nó một chút.”
Lỗ hầu dịu dàng đáp lời, đỡ cánh tay thê tử, cùng bà đến Thược Tiên Cư.
Trong Thược Tiên Cư người hầu không nhiều, ngoài Bội ra chỉ có hai nha hoàn, cùng một phụ nhân từng nuôi dưỡng Phùng Châu từ nhỏ.
Phùng Châu rất sợ bị quá nhiều người vây quanh, lại càng sợ ánh mắt nhìn vào những chỗ thân thể nàng đã bị tổn thương.
Tỉnh táo và điên loạn trong nàng là trạng thái đảo ngược. Khi tỉnh, nàng lại chìm trong sợ hãi, thậm chí tự hại mình. Còn vào lúc tưởng như yên tĩnh, thực ra đầu óc nàng đang mịt mờ hỗn độn, chẳng biết nay là ngày nào, đêm nào.
Lỗ hầu từng nghĩ, nếu con gái mãi sống trong sự “yên lặng” lãng quên ấy, chưa hẳn đã là điều xấu. Nhưng thê tử ông vẫn nhất quyết chạy chữa khắp nơi. Bà nói, Đậu Đậu từ nhỏ đã thông minh hiền thục, tuyệt đối không cam lòng bị giam cầm trong cõi hỗn mang như vậy. Làm mẹ, bà không thể buông tay, phải nắm chặt lấy nàng, kéo nàng ra khỏi u mê.
Bao năm qua, phủ hầu mời danh y đến trị bệnh cho Phùng Châu, ít nhất cũng vài chục người, thậm chí cả trăm. Ngày ngày nàng phải uống thuốc, không chịu uống thì Thân Đồ phu nhân lại nhẹ nhàng dỗ dành.
Ngoài ra, mỗi ngày Thân Đồ phu nhân đều cùng con nói chuyện, đùa giỡn. Danh y đều căn dặn, với người từng chịu tổn thương nặng, phải khiến họ cảm thấy an toàn, thư thái, và không ai thích hợp để mang lại điều đó hơn một người mẹ.
…
Trong Thược Tiên Cư, chính sảnh bày mấy rương gỗ đã mở nắp. Bội dìu Phùng Châu đến xem bên trong.
Trong rương có vài xấp lụa là thượng hạng, những quyển du ký trên trúc giản mà Phùng Châu từng yêu thích thuở nhỏ, vài món đồ văn phòng tứ bảo, thậm chí còn có một con diều giấy rực rỡ.
Lỗ hầu vừa bước đến cửa điện liền trông thấy cảnh này, khẽ hỏi a hoàn bên cạnh: “Những thứ này từ đâu đến?”
A hoàn đáp thật nhỏ: “Bẩm hầu gia, là Nghiêm tướng quốc mới sai người mang đến.”
Lỗ hầu không muốn để Nghiêm tướng quốc gặp lại nữ nhi. Nghiêm tướng quốc đã nhiều lần xin được diện kiến, Lỗ hầu bất đắc dĩ mới cho phép hắn thỉnh thoảng gửi ít đồ sang.
Không ngờ đã hai năm trôi qua, vị tướng quốc ấy vẫn canh cánh trong lòng, đến cả đêm Trừ tịch cũng đích thân đến tặng đồ mong làm Phùng Châu vui vẻ.
Lỗ hầu thở dài, cho người đi dò xem, mới biết xe ngựa của Nghiêm tướng quốc vẫn còn đậu bên ngoài cửa hông phủ.
Bên trong cỗ xe dừng ngoài cửa, than trong lò sưởi đã tắt từ lâu.
Nghiêm tướng quốc, tức Nghiêm Miễn, vận thường phục màu chàm sẫm, ngồi xếp bằng trong xe, lặng lẽ nhìn về phía tường viện và lầu các của phủ Lỗ hầu, nơi ánh mắt hướng đến chính là Thược Tiên Cư – dù hắn không thể nhìn thấy nơi ấy.
Trời đã tối đen, khắp nơi đèn hoa rực rỡ, tiếng pháo chúc tết vang dội không ngừng.
Than nguội, gió lạnh len vào, trong xe đã đầy hơi lạnh, nhưng người hầu không dám lên tiếng giục.
Truyện được dịch bởi team rừng truyện chấm com!!!
Chẳng bao lâu, cánh cửa bên phủ hầu hé mở, một a hoàn bước ra, tay cầm đèn lồng, cúi người hành lễ trước xe ngựa: “Hầu gia và phu nhân thỉnh tướng quốc vào phủ một gặp.”
Trong xe, ánh mắt Nghiêm Miễn lập tức sáng lên, chưa chờ thị vệ lên tiếng, hắn đã tự tay vén màn xe, nhanh chóng bước xuống.
Lời mời ấy, là do Thân Đồ phu nhân quyết định.
Tình cảm lưu lại từ thời niên thiếu vốn luôn rực rỡ, sắc màu tươi sáng ấy khó lòng phai nhạt. Nay trải qua mất rồi lại tìm được, càng khiến người ta cố chấp hơn. Nếu có thể gặp lại một lần, tận mắt thấy khoảng cách giữa hiện thực và ký ức, có lẽ cũng dễ buông bỏ hơn, không còn lặng lẽ chấp niệm.
Nhưng chỉ là “một gặp”, không phải “tái ngộ”. Thân Đồ phu nhân không dám để con gái dao động cảm xúc quá nhiều, càng không muốn thấy trong ánh mắt kẻ khác lộ ra bất kỳ thương hại nào làm tổn thương lòng tự trọng của con.
…
Phía sau viện nơi Phùng Châu ở có một cánh cửa nhỏ thông ra một khu vườn. Trong vườn có thủy tạ, hồ sen nuôi cá. Tứ phía thủy tạ được che bằng rèm trúc buông mành lụa mỏng.
Mỗi khi hè đến, Phùng Châu thích nhất ra đó hóng mát đọc sách – là nơi nàng thường xuyên lui tới.
Giờ đây trong thủy tạ không thắp đèn, rèm trúc vén lên, người trong tạ cách một tầng lụa mỏng như sương mù, nhìn thấy bóng hình đã cách biệt hơn mười năm.
Dáng người ấy vẫn thanh mảnh như xưa, dẫu khoác áo lông hồ ly vẫn khó che giấu vẻ gầy gò, có thị nữ dìu bước đi rất chậm, nhưng vẫn dễ nhận ra nàng đi lại có tật ở một chân.
Dù ngăn bởi một lớp mành, cũng thấy gương mặt ấy đã không còn thanh xuân. Dưới ánh đèn, làn da nàng loang lổ hằn vết thời gian, cả người tựa đóa sen tàn giữa đông, khô khốc yếu ớt, chỉ còn một cọng sen cố gắng chống đỡ, như thể chỉ cần một cơn gió sẽ gãy gục trong hồ lạnh.
Nhưng trên gương mặt in hằn vết đau ấy, thần thái lại ngây ngô, mơ hồ như trẻ thơ. Nàng rướn đầu nhìn về phía thủy tạ, khẽ hỏi: “A mẫu, trong thủy tạ là ai vậy?”
Giọng nói đầy sợ sệt, tuy có nghi hoặc nhưng chẳng dám tự tiện tiến tới.
Nghiêm Miễn suýt bước ra, lại bị Lỗ hầu đưa tay cản lại.
Thân Đồ phu nhân quay sang phía tạ tối, nói: “Chắc là phụ thân con đấy.”
Nghe vậy, Phùng Châu muốn bước tới, nhưng bị Thân Đồ phu nhân giữ lại: “Đừng đi, gần hồ có băng, trơn trượt lắm… Chúng ta ở vườn ngắm đèn là được rồi, được không?”
Phùng Châu nghe đến chữ “trơn”, lập tức rụt chân què lại.
Nhưng lúc xoay người, nàng vẫn vô thức ngoái đầu nhìn về thủy tạ, đột nhiên hỏi: “A mẫu, vì sao Nghiêm Khuyến Sơn chỉ gửi đồ, mà không đến gặp?”
Nghiêm Miễn, biểu tự Khuyến Sơn.
Hai người từng thanh mai trúc mã, tình đầu ý hợp, sắp sửa đính ước. Trí nhớ của Phùng Châu giờ rõ ràng vẫn dừng ở đoạn đó.
Nghe thấy cái tên thân mật ấy, trong thủy tạ, Nghiêm Khuyến Sơn – người nay đã chẳng còn trẻ – đôi mắt lập tức ngân lệ.
“Ta nhớ rồi, các nàng nói hôm nay là ngày mùng Một…” Phùng Châu khẽ lẩm bẩm: “Vậy chắc là chàng về bản gia ở quận Hoằng Nông rồi.”
Nàng tiếp: “A mẫu, mấy hôm trước con còn cãi nhau với chàng nữa.”
Thân Đồ phu nhân thuận lời hỏi: “Vì chuyện gì mà cãi nhau?”
“Con vẽ mặt điểu diệp – kiểu mới nhất đấy.” Phùng Châu ngừng bước, bắt đầu tỉ mỉ kể lại: “Con ngồi soi gương vẽ rất lâu, mà chàng thấy lại bảo như có hai con muỗi đập chết trên mặt, bắt con tẩy ngay, không thì chàng sẽ không cùng con đi du xuân!”
Cái gọi là “điểu diệp”, là kiểu trang điểm phổ biến bấy giờ: sau khi phủ phấn trắng lên hai gò má, dùng sắc đỏ nhạt để nhuộm thành hai mảng tròn, sau đó trong hai mảng ấy vẽ đôi chim nhỏ đối xứng – chim phải rất nhỏ, lại dùng bút thanh mảnh và mực lam sẫm, cực kỳ khó vẽ.
Phùng Châu vì bị trêu chọc chuyện “điểu diệp” mà giận dỗi mấy ngày không thèm để ý tới đối phương.
Những giận hờn nhỏ nhặt thuở thiếu thời, nàng nhớ rất rõ. Dù ký ức rối loạn, thời gian lẫn lộn, nhưng nhắc lại vẫn còn giận dỗi, đủ thấy trong lòng nàng vẫn ghi khắc.
Trong thủy tạ, Nghiêm tướng quốc bật cười khi nghe đến đây, nhưng trong mắt đã ngấn lệ.
“Hắn thì biết gì về điểu diệp, lại còn dám lắm lời…” Thân Đồ phu nhân dắt tay con gái đi tới, mỉm cười phụ họa: “Đúng là đàn gảy tai trâu, lần sau con ta đừng họa cho hắn xem nữa.”
Phùng Châu bật cười, gật đầu đồng tình, rất nhanh đã ném chuyện ấy ra sau đầu, chuyển sự chú ý sang chiếc hoa đăng treo phía trước.
Chiếc hoa đăng ấy lấy tre làm khung, lụa làm da, chế thành hình con hổ sống động như thật.
Con hổ phát sáng ấy vừa uy phong lẫm liệt, lại mang chút vẻ ngây ngốc đáng yêu, khiến Phùng Châu cảm thấy thân thiết vô cùng. Nàng chỉ tay nói: “A mẫu, con muốn chiếc đèn đó! Con muốn mang về cho, cho…”
Lời nói đột nhiên nghẹn lại, vẻ mặt đầy nghi hoặc—nàng… muốn mang cho ai? Lại nhìn chiếc đèn hình hổ kia, ánh mắt Phùng Châu bỗng hoảng hốt, né tránh, thân thể run rẩy không kiểm soát được. Bội lập tức phát hiện, vội vàng đỡ nàng: “Tiểu thư!”
Nhưng đã không kịp—Phùng Châu bất ngờ gào thét trong đau đớn, giãy giụa lao đi, tiếng thét vang vọng cả đình viện. Nghiêm tướng quốc trong thủy tạ lập tức muốn xông tới, lại bị Lỗ hầu ngăn lại.
“Đây là chuyện thường rồi, tướng quốc.” Lỗ hầu nghiêm giọng nói.
Nghiêm tướng quốc run rẩy, siết chặt cánh tay Lỗ hầu.
Nếu đây là “chuyện thường”, thì con gái Lỗ hầu đã phải chịu đựng bao nhiêu khổ sở mới thành ra như thế?
Phùng Châu cả đêm không yên, co rút trong chăn, tiếng pháo bên ngoài nổ bao lâu, nàng khóc bấy lâu. Không ai biết nàng khóc vì điều gì, chính nàng cũng không nói rõ được.
…
Sau đêm Trừ tịch, đến rằm tháng Giêng, đoàn xe ngựa từ Đông Lai quận trở về đã gấp rút vào Trường An.
Lỗ hầu và phu nhân, cùng Phùng Tự, rời phủ đến gặp đứa trẻ sắp được đưa đến cung Tiên Đài.
Hôm nay trong cung Tiên Đài thiết lập đàn tế, tất cả những ai có cơ duyên với Thiên Cơ tinh đều phải có mặt, không thể trì hoãn. Đứa trẻ này không kịp trở về phủ gặp mặt, cần phải nhanh chóng nhập cung.
Từ trên xe bước xuống là một thiếu nữ gầy gò, có lẽ do sống lâu ở làng chài ven biển, nên da nàng sạm đi vì nắng gió. Gương mặt hơi tròn, mày mắt đen nhánh sáng rõ, thần thái thoáng chút bất an.
Bạn có thể dùng phím mũi tên ← → hoặc WASD để lùi/sang chương.
Báo lỗi Bình luận
Truyện Hot Mới
Danh sách chương









