Ngay trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc, tự chặt cánh tay mình thoạt nhìn như không phải hành động sáng suốt, song Lăng Kha lại vô cùng minh bạch việc hắn đang làm.
Hắn đang làm một việc mà chỉ có hắn mới có thể làm.
Có lẽ là do điềm báo trong bát tự, sau nhiều lần cân nhắc, trong lòng hắn sớm đã sinh ra một tia dự cảm.
Chính nhờ có dự cảm ấy, hắn mới có thể giữ được phần tỉnh táo giữa cơn biến loạn bất ngờ, nhìn xuyên qua tầng tầng lớp lớp giả tượng, thấy rõ căn nguyên thật sự phía sau tai họa nơi Tiên Đài cung.
Thái tử bất ngờ mang tiếng dùng tà thuật hại vua cha – đây vốn là tội danh chạm đến long uy chí cao vô thượng. Thế nhưng hơn mười năm phụ tử hòa thuận, bệ hạ dù thế nào cũng không nên không cho thái tử một cơ hội biện bạch, lại lập tức sai Chúc Chấp – kẻ hành sự tàn độc – đi vấn tội thái tử.
Cơn giận của Thiên tử đến quá mãnh liệt, quá tuyệt tình.
Lời giải thích duy nhất, chỉ có thể là chuyện này chẳng qua chỉ là một tia lửa, mà nơi tia lửa ấy rơi xuống, từ lâu đã được rưới đầy dầu.
protected text
Căn nguyên nằm ở hắn.
Lưỡi dao của đại họa diệt môn vốn nhằm vào hắn, còn thái tử bị cuốn vào chỉ là ngoài ý muốn… Là có kẻ nhận ra lưỡi dao đã giơ lên, liền nhân cơ hội đẩy thái tử vào chỗ chết!
Lăng Kha dĩ nhiên biết rõ, việc hắn sát phạt đến Tiên Đài cung, áp sát đến cung môn, hành vi như thế dù thế nào cũng không thể được bệ hạ dung thứ. Thế nhưng cục diện tử vong của hắn vốn đã bày ra từ trước, vậy thì cũng không còn gì gọi là đường lui. Tất cả những do dự hay đắn đo đều trở nên vô nghĩa.
Đây là thế cục chết do lòng người dựng nên, chỉ có thể mượn kẽ hở trong lòng người để mở ra một tia sinh cơ cho Tư Biến.
Dẫu từ nay về sau giữa bệ hạ và Tư Biến có xa cách hay đoạn tuyệt, chỉ cần đêm nay đổi được một khoảng không thở dốc, Tư Biến vẫn còn cơ hội sống, mà còn sống thì còn có cơ hội tra rõ chân tướng.
Thuộc hạ của hắn hoảng loạn băng bó vết thương cụt tay cho hắn, sắc mặt hắn trắng bệch, dùng cánh tay còn lại ghì chặt lấy miệng vết thương băng sơ sài, máu tươi không ngừng trào ra từ kẽ tay.
Tựa như trong tay hắn đang nắm chặt một dây cung dài vô hình, dây cung căng đến cực hạn, cứa rách lòng bàn tay đến mức máu chảy đầm đìa.
Đầu dây bên kia nằm trong tay Thiên tử, còn trên thân dây ấy, treo lơ lửng vô số sinh mệnh.
— Có nên động binh đánh cược một phen? Dù đã trả lại hổ phù, nhưng với uy tín trong quân của Lăng Kha, dẫu không có binh phù, hắn chưa chắc không thể cưỡng ép điều động một trong ba cánh quân ngoài thành. Như vậy đủ để khơi mào một trận chiến khốc liệt, một khi bắt đầu, lòng người các phe đều sẽ bị cuốn vào, không dễ gì dừng lại.
Nhưng hắn sẽ đánh với ai? Hai cánh quân còn lại, cũng là huynh đệ từng cùng hắn vào sinh ra tử.
Chiến trường lại ở đâu? Chính là mảnh đất dưới chân này – nơi hắn đã dốc mười mấy năm chinh chiến, lấy vô số xương máu tướng sĩ mà miễn cưỡng dệt nên hình thái ban đầu của một cõi thái bình.
Người thắng sau trận chiến này là ai? Không phải hắn, không phải vua, càng không phải dân chúng vô tội. Chỉ có thể là kẻ đứng ngoài ngư ông đắc lợi mà thôi.
Phán đoán chính xác cái giá, thắng bại và hướng đi của một cuộc chiến là điều duy nhất hắn tinh thông.
Và kết cục đó tuyệt không phải điều hắn muốn thấy.
Mỗi người đều có điều mình kiên trì, còn hắn vốn chỉ là một kẻ thô phác không biết quyền biến.
Hắn chặt không chỉ là một cánh tay. Việc hắn tự tiện xông vào chốn này, tội đã định. Hắn đang nói với bệ hạ: hắn có thể chết, hắn nguyện chết, hắn – Lăng Kha – thà tự đoạn mà chết cũng không muốn trở thành thanh kiếm gây họa cho quốc gia.
Chỉ cầu bệ hạ thấu hiểu lòng hắn, đừng để lửa lan đến thêm những người vô tội khác.
Lăng Kha siết chặt sợi dây vô hình kia, lệ rưng trong mắt, ngẩng đầu nhìn cung môn sừng sững trước mặt, chờ đợi hồi âm từ đầu dây bên kia.
Thiên hạ thống nhất chưa đầy trăm năm, sử thư lục quốc và sách chư tử bách gia từng bị thiêu hủy toàn bộ. Đại Càn tuy đã lập, nhưng giang sơn nhà họ Lưu có thể dựa vào tiền lệ mà đi thì thực sự quá ít. Kinh nghiệm dựng nước giữ nước vẫn chưa kịp tích lũy.
Dưới chân đạp lên vùng đất rộng lớn chưa từng có, dù là Nhân Đế thuở trước hay Lăng Kha ngày nay, họ đều tự cho mình đang đi trên con đường chưa ai từng bước qua. Họ đồng chí đồng lòng, ngưỡng mộ lẫn nhau, chí khí bừng bừng, ôm khát vọng vẽ nên cương vực Đại Càn. Vì vậy họ gần như đương nhiên tin rằng mình sẽ không lặp lại vết xe đổ của tiền nhân, rằng họ sẽ mở ra một thiên địa mới, những chuyện như quân thần ly tâm, chim hết cung tàng, nghi kỵ sinh quỷ… tất thảy chỉ là những bài thơ hủ lậu của kẻ bất tài ngày xưa.
Thế nhưng lúc này, gió lạnh rít gào, vẫn cứ lật đến trang định mệnh ấy.
Có lẽ, đó mới là chú ngữ thật sự.
Nếu đã không thể cứu vãn, vậy thì hãy cố gắng giảm nhẹ cái giá phải trả.
Từng quen biết bao năm, dẫu chẳng rõ từ khi nào lại trở nên xa cách, nhưng giữa thần và quân, lý ra vẫn nên còn giữ lại chút đồng thuận và ăn ý.
Thế nhưng thứ đồng thuận và ăn ý mà Lăng Kha luôn tin tưởng ấy, rốt cuộc lại không có cơ hội chứng thực.
Trước khi Nhân Đế hôn mê, tin cuối cùng hắn nghe được chính là: Trường Bình hầu kháng chỉ sát phạt đến Tiên Đài cung, cứu thái tử, hiện đang áp sát chính cung.
Nhân Đế đôi mắt đỏ ngầu, nhìn về bức mật tấu đặt dưới tay – đó là chứng cứ Trường Bình hầu thông địch với Hung Nô, đã bí mật dâng lên từ hai tháng trước. Hắn giấu không công bố, thậm chí còn do dự chưa quyết… Hắn vốn không muốn để thái tử bị liên lụy, nên mới sai thái tử đến Tiên Đài cung cầu phúc.
Nào ngờ, thái tử mượn danh cầu phúc làm chuyện yểm chú, hoàng hậu của hắn tạo phản, Lăng Kha quả nhiên cũng tạo phản!
Nhân Đế huyết khí công tâm, chút lý trí cuối cùng tan biến:
“Truyền khẩu dụ trẫm: Kẻ nào đêm nay dám xâm phạm chính cung… bất kể giá nào, giết không tha!”
Khi tin Lăng Kha tự chặt cánh tay truyền tới chính điện cung Vị Ương, đáp lại lời của cấm quân truyền tin, chính là thánh chỉ “kẻ nào dám phạm cung môn, giết không tha”.
Lang trung lệnh Tiết Ương dẫu lòng không nỡ trăm bề, cũng chẳng dám không tuân. Cục diện trong ngoài Trường An biến đổi từng khắc, không biết đã có tin tức nào lọt đến tai quân doanh ngoài thành hay chưa, chẳng ai có thể gánh nổi hậu quả này.
Ngay khi Tiết Ương chưa kịp ra lệnh, từ phía sau, Chúc Chấp – thủ lĩnh tú y vệ mang thương tích – đã thúc ngựa đuổi đến. Thấy cảnh đối đầu trước cung môn, hắn giận dữ quát:
“Tiết Ương to gan! Thấy phản nghịch phạm cung mà làm ngơ, chẳng lẽ cũng là đồng đảng?!”
Tiết Ương biến sắc, cùng lúc đó, cấm quân dưới trướng Chúc Chấp đã vung đao xông lên. Chúc Chấp cưỡi ngựa giương cung, một mũi tên bắn thẳng về phía Lăng Kha.
Lăng Kha chỉ còn một tay vẫn kịp vung đao gạt mũi tên ấy, nhưng tiếp đó là vô số tên khác ào ạt bắn tới.
Một thiếu niên toàn thân đẫm máu lao tới, che chở cho hắn trong cơn mưa tên.
Song trong cảnh ngộ này, ai cũng chẳng thể bảo vệ được ai nữa rồi.
Toàn thân Lưu Cố cắm đầy tên, mà Lăng Kha cũng chẳng mấy chốc đẫm máu khắp mình.
Tại điện Tiêu Phòng, Lăng hoàng hậu đứng nơi cao các, một thị nữ quỳ một gối bên cạnh, bẩm lại tin tức ngoài cung môn.
Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!
Lăng hoàng hậu khẽ nhắm mắt, trong đáy mắt không có hối hận, cũng không có nước mắt.
Đi đến bước này, không phải lỗi của bà, không phải lỗi của Tư Biến, lại càng không phải lỗi của đệ đệ bà. Nếu chẳng có lỗi, thì cần gì phải hối hận? Mà đã dốc hết toàn lực giữa tuyệt cảnh này không thẹn với lòng, thì cũng chẳng cần nước mắt.
“Ký Hà.”
“Có nô tỳ.”
“Mang theo Ngu nhi và Tòng Nam rời khỏi nơi này, đi tìm Tư Thoái, nói với nó, phải nghe lời. Mọi chuyện đến đây thôi, càng lui càng tốt.”
Thị nữ Ký Hà nghe vậy ngẩng đầu: “Tiểu quân, vậy còn người…”
Lời chưa dứt, nàng kinh hoảng vươn tay ra, nhưng chỉ kịp chạm vào vạt áo lụa.
Đêm xuân tháng Giêng, Lăng hoàng hậu từ trên cao các lao mình xuống.
Gió tuyết vù qua bên tai, trong khoảnh khắc cái chết cận kề, ký ức đời bà hiện lên như thước phim đảo ngược, cuối cùng dừng lại ở hình ảnh thuở nhỏ cùng đệ đệ chăn dê, chân trần chạy nhảy trên thảo nguyên.
Một lần chăn dê, nghe thấy tiếng vó ngựa, bà kéo đệ đệ nấp sau thân cây lớn, thấy một đội kỵ binh phi nhanh lướt qua.
Đội người kia chẳng oai vệ gì, thoạt nhìn chỉ là một đám thảo khấu nhỏ nhoi trong loạn thế, đao kiếm cũ nát, chỉ có lá cờ thêu một chữ bà lúc ấy không biết đọc. Mãi nhiều năm sau, bà mới biết đó là chữ “Lưu”.
Từ đó về sau, bà và đệ đệ gắn chặt với cái họ ấy, đến chết mới dứt.
Tiếng vó ngựa vọng về tựa từ giấc mộng xưa của Lăng hoàng hậu, người cưỡi ngựa là đứa con trai út chẳng nghe lời của bà.
Trước đêm chính đán, Lưu Kỳ phụng mệnh mẫu thân, rời Trường An hai trăm dặm để tìm tiên y cho phụ hoàng.
Lưu Kỳ vốn không muốn đi. Hắn vừa về chưa bao lâu, lại mới hôm qua còn nói với mẫu hậu về mối nghi ngờ trong lòng, nhưng mẫu hậu không cho hắn mở miệng, chỉ mỉm cười bảo hắn: báo hiếu với phụ hoàng mới là đạo lý.
Lưu Kỳ ngẫm nghĩ, thấy cũng đúng. Phụ hoàng là chủ thiên hạ, chỉ cần người vui vẻ yên lòng, thì còn gì là tai họa không vượt qua nổi?
Huống hồ, tai họa… thật sự có thể từ trên trời rơi xuống sao?
Trước khi rời kinh hai hôm, hắn đến thăm phụ hoàng. Phụ hoàng còn ném cho hắn thanh kiếm gỗ đào, bảo thử xem kiếm pháp của hắn có khá hơn không. Hắn đắc ý, phụ hoàng mệt tới thở hổn hển, ngồi luôn xuống bậc đá trước điện mà nói: “E rằng hai năm nữa sẽ bị ngươi – đứa nhỏ nghịch ngợm – đánh bại mất.”
Hắn còn chưa kịp hân hoan, phụ hoàng đã chuyển sang khảo hỏi kinh sử. Hắn chột dạ, liền chạy đi cầu cứu huynh trưởng.
Phụ hoàng hôm ấy còn cười rất tươi.
Nhưng lúc này…
Lưu Kỳ về kinh sớm, phóng ngựa lao tới trước cung môn, đập vào mắt hắn là thi thể tan tác của cữu phụ và huynh trưởng.
Bốn người theo bên hắn là cấm quân thân cận của thiên tử, mang theo lệnh tiết hoàng gia, nên dọc đường không ai dám ngăn cản.
Cùng lúc đó, một cấm quân từ trong cung bước ra, mang theo tin tức: Lăng hoàng hậu đã chịu tử hình.
Tử hình… tử hình?
Trong khoảnh khắc, Lưu Kỳ chẳng phân rõ thật giả, cũng không còn nghe được âm thanh nào nữa, hắn chỉ thấy Chúc Chấp tay cầm kiếm, chọc ngoáy thi thể cữu phụ đã nát vụn.
Hắn rút kiếm lao lên.
Song trong chớp mắt, một mũi tên ngắn từ đâu bay tới, cắm phập vào chân trái hắn, chặn lại bước tiến.
Lưu Kỳ khụy xuống, vẫn muốn vùng dậy, nhưng Chúc Chấp đã bật cười lạnh, ra hiệu cho thuộc hạ giương cung về phía hắn.
“To gan!”
Một tiếng quát vang lên, áo choàng đen tung bay, một thân ảnh uy nghi đứng chắn trước mặt Lưu Kỳ.
Chúc Chấp híp mắt nhìn người vừa tới – kẻ chẳng màng né tránh nghi kỵ, lại dám xuất hiện ở nơi này – chính là Lỗ hầu Phùng Hi.
Lão nhân ấy cất giọng trầm mạnh:
“Chưa nói đến việc đứa nhỏ mới về, chưa rõ tình hình! Nhưng hắn là con của bệ hạ, xử trí ra sao chỉ có bệ hạ định đoạt. Kẻ nào dám vượt quyền, đều nên lấy tội mưu hại hoàng tử mà luận!”
Lỗ hầu cúi xuống, ôm chặt đứa trẻ đang lệ tuôn đầy mặt trong lòng.
Là một khai quốc công thần từng tung hoành chiến trường, Lỗ hầu tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn đủ sức ôm trọn một đứa nhỏ bị thương vào lòng.
Lưu Kỳ không rõ bản thân bị giữ chặt trong bao lâu. Hắn gào khóc điên cuồng giữa nền tuyết đỏ ngầu, giãy giụa như kẻ bị đày xuống địa ngục.
Không biết bao lâu sau, tiếng bước chân vội vã lướt qua, cho đến khi một người dừng lại trước mặt hắn, chậm rãi quỳ xuống.
Trong nền tuyết nhuốm máu, một hộp gấm nằm lặng lẽ, vài viên đan dược màu nâu vương vãi xung quanh.
Đó là “tiên dược” mà Lưu Kỳ cầu về cho phụ hoàng. Vị tiên y kia tuổi cao sức yếu, đi lại chậm chạp, Lưu Kỳ vì muốn nhanh chóng hồi kinh, đã để người đi sau hộ tống y sư, còn bản thân thì ngày đêm không nghỉ phi ngựa về trước.
Lúc này, những viên thuốc được người nọ nhặt lại từng viên, đặt vào hộp gấm, đưa trả cho hắn.
Lưu Kỳ ngẩng đầu nhìn theo bàn tay ấy, thấy một gương mặt nghiêm nghị với chòm râu ngắn – chính là Nghiêm tướng quốc.
Người kia để lại một câu:
“Đây là binh khí của một đứa trẻ, lục hoàng tử hãy biết cách dùng.”
Trẻ nhỏ, dẫu ôm bao oán hận, cũng không thể phá được tường đồng vách sắt của cấm quân.
Trẻ nhỏ nên cầm lấy thứ vũ khí thuộc về mình, dùng vũ khí đó để tranh lấy quyền được sống sót, trưởng thành – và có lẽ, nhiều hơn thế.
Hắn đang làm một việc mà chỉ có hắn mới có thể làm.
Có lẽ là do điềm báo trong bát tự, sau nhiều lần cân nhắc, trong lòng hắn sớm đã sinh ra một tia dự cảm.
Chính nhờ có dự cảm ấy, hắn mới có thể giữ được phần tỉnh táo giữa cơn biến loạn bất ngờ, nhìn xuyên qua tầng tầng lớp lớp giả tượng, thấy rõ căn nguyên thật sự phía sau tai họa nơi Tiên Đài cung.
Thái tử bất ngờ mang tiếng dùng tà thuật hại vua cha – đây vốn là tội danh chạm đến long uy chí cao vô thượng. Thế nhưng hơn mười năm phụ tử hòa thuận, bệ hạ dù thế nào cũng không nên không cho thái tử một cơ hội biện bạch, lại lập tức sai Chúc Chấp – kẻ hành sự tàn độc – đi vấn tội thái tử.
Cơn giận của Thiên tử đến quá mãnh liệt, quá tuyệt tình.
Lời giải thích duy nhất, chỉ có thể là chuyện này chẳng qua chỉ là một tia lửa, mà nơi tia lửa ấy rơi xuống, từ lâu đã được rưới đầy dầu.
protected text
Căn nguyên nằm ở hắn.
Lưỡi dao của đại họa diệt môn vốn nhằm vào hắn, còn thái tử bị cuốn vào chỉ là ngoài ý muốn… Là có kẻ nhận ra lưỡi dao đã giơ lên, liền nhân cơ hội đẩy thái tử vào chỗ chết!
Lăng Kha dĩ nhiên biết rõ, việc hắn sát phạt đến Tiên Đài cung, áp sát đến cung môn, hành vi như thế dù thế nào cũng không thể được bệ hạ dung thứ. Thế nhưng cục diện tử vong của hắn vốn đã bày ra từ trước, vậy thì cũng không còn gì gọi là đường lui. Tất cả những do dự hay đắn đo đều trở nên vô nghĩa.
Đây là thế cục chết do lòng người dựng nên, chỉ có thể mượn kẽ hở trong lòng người để mở ra một tia sinh cơ cho Tư Biến.
Dẫu từ nay về sau giữa bệ hạ và Tư Biến có xa cách hay đoạn tuyệt, chỉ cần đêm nay đổi được một khoảng không thở dốc, Tư Biến vẫn còn cơ hội sống, mà còn sống thì còn có cơ hội tra rõ chân tướng.
Thuộc hạ của hắn hoảng loạn băng bó vết thương cụt tay cho hắn, sắc mặt hắn trắng bệch, dùng cánh tay còn lại ghì chặt lấy miệng vết thương băng sơ sài, máu tươi không ngừng trào ra từ kẽ tay.
Tựa như trong tay hắn đang nắm chặt một dây cung dài vô hình, dây cung căng đến cực hạn, cứa rách lòng bàn tay đến mức máu chảy đầm đìa.
Đầu dây bên kia nằm trong tay Thiên tử, còn trên thân dây ấy, treo lơ lửng vô số sinh mệnh.
— Có nên động binh đánh cược một phen? Dù đã trả lại hổ phù, nhưng với uy tín trong quân của Lăng Kha, dẫu không có binh phù, hắn chưa chắc không thể cưỡng ép điều động một trong ba cánh quân ngoài thành. Như vậy đủ để khơi mào một trận chiến khốc liệt, một khi bắt đầu, lòng người các phe đều sẽ bị cuốn vào, không dễ gì dừng lại.
Nhưng hắn sẽ đánh với ai? Hai cánh quân còn lại, cũng là huynh đệ từng cùng hắn vào sinh ra tử.
Chiến trường lại ở đâu? Chính là mảnh đất dưới chân này – nơi hắn đã dốc mười mấy năm chinh chiến, lấy vô số xương máu tướng sĩ mà miễn cưỡng dệt nên hình thái ban đầu của một cõi thái bình.
Người thắng sau trận chiến này là ai? Không phải hắn, không phải vua, càng không phải dân chúng vô tội. Chỉ có thể là kẻ đứng ngoài ngư ông đắc lợi mà thôi.
Phán đoán chính xác cái giá, thắng bại và hướng đi của một cuộc chiến là điều duy nhất hắn tinh thông.
Và kết cục đó tuyệt không phải điều hắn muốn thấy.
Mỗi người đều có điều mình kiên trì, còn hắn vốn chỉ là một kẻ thô phác không biết quyền biến.
Hắn chặt không chỉ là một cánh tay. Việc hắn tự tiện xông vào chốn này, tội đã định. Hắn đang nói với bệ hạ: hắn có thể chết, hắn nguyện chết, hắn – Lăng Kha – thà tự đoạn mà chết cũng không muốn trở thành thanh kiếm gây họa cho quốc gia.
Chỉ cầu bệ hạ thấu hiểu lòng hắn, đừng để lửa lan đến thêm những người vô tội khác.
Lăng Kha siết chặt sợi dây vô hình kia, lệ rưng trong mắt, ngẩng đầu nhìn cung môn sừng sững trước mặt, chờ đợi hồi âm từ đầu dây bên kia.
Thiên hạ thống nhất chưa đầy trăm năm, sử thư lục quốc và sách chư tử bách gia từng bị thiêu hủy toàn bộ. Đại Càn tuy đã lập, nhưng giang sơn nhà họ Lưu có thể dựa vào tiền lệ mà đi thì thực sự quá ít. Kinh nghiệm dựng nước giữ nước vẫn chưa kịp tích lũy.
Dưới chân đạp lên vùng đất rộng lớn chưa từng có, dù là Nhân Đế thuở trước hay Lăng Kha ngày nay, họ đều tự cho mình đang đi trên con đường chưa ai từng bước qua. Họ đồng chí đồng lòng, ngưỡng mộ lẫn nhau, chí khí bừng bừng, ôm khát vọng vẽ nên cương vực Đại Càn. Vì vậy họ gần như đương nhiên tin rằng mình sẽ không lặp lại vết xe đổ của tiền nhân, rằng họ sẽ mở ra một thiên địa mới, những chuyện như quân thần ly tâm, chim hết cung tàng, nghi kỵ sinh quỷ… tất thảy chỉ là những bài thơ hủ lậu của kẻ bất tài ngày xưa.
Thế nhưng lúc này, gió lạnh rít gào, vẫn cứ lật đến trang định mệnh ấy.
Có lẽ, đó mới là chú ngữ thật sự.
Nếu đã không thể cứu vãn, vậy thì hãy cố gắng giảm nhẹ cái giá phải trả.
Từng quen biết bao năm, dẫu chẳng rõ từ khi nào lại trở nên xa cách, nhưng giữa thần và quân, lý ra vẫn nên còn giữ lại chút đồng thuận và ăn ý.
Thế nhưng thứ đồng thuận và ăn ý mà Lăng Kha luôn tin tưởng ấy, rốt cuộc lại không có cơ hội chứng thực.
Trước khi Nhân Đế hôn mê, tin cuối cùng hắn nghe được chính là: Trường Bình hầu kháng chỉ sát phạt đến Tiên Đài cung, cứu thái tử, hiện đang áp sát chính cung.
Nhân Đế đôi mắt đỏ ngầu, nhìn về bức mật tấu đặt dưới tay – đó là chứng cứ Trường Bình hầu thông địch với Hung Nô, đã bí mật dâng lên từ hai tháng trước. Hắn giấu không công bố, thậm chí còn do dự chưa quyết… Hắn vốn không muốn để thái tử bị liên lụy, nên mới sai thái tử đến Tiên Đài cung cầu phúc.
Nào ngờ, thái tử mượn danh cầu phúc làm chuyện yểm chú, hoàng hậu của hắn tạo phản, Lăng Kha quả nhiên cũng tạo phản!
Nhân Đế huyết khí công tâm, chút lý trí cuối cùng tan biến:
“Truyền khẩu dụ trẫm: Kẻ nào đêm nay dám xâm phạm chính cung… bất kể giá nào, giết không tha!”
Khi tin Lăng Kha tự chặt cánh tay truyền tới chính điện cung Vị Ương, đáp lại lời của cấm quân truyền tin, chính là thánh chỉ “kẻ nào dám phạm cung môn, giết không tha”.
Lang trung lệnh Tiết Ương dẫu lòng không nỡ trăm bề, cũng chẳng dám không tuân. Cục diện trong ngoài Trường An biến đổi từng khắc, không biết đã có tin tức nào lọt đến tai quân doanh ngoài thành hay chưa, chẳng ai có thể gánh nổi hậu quả này.
Ngay khi Tiết Ương chưa kịp ra lệnh, từ phía sau, Chúc Chấp – thủ lĩnh tú y vệ mang thương tích – đã thúc ngựa đuổi đến. Thấy cảnh đối đầu trước cung môn, hắn giận dữ quát:
“Tiết Ương to gan! Thấy phản nghịch phạm cung mà làm ngơ, chẳng lẽ cũng là đồng đảng?!”
Tiết Ương biến sắc, cùng lúc đó, cấm quân dưới trướng Chúc Chấp đã vung đao xông lên. Chúc Chấp cưỡi ngựa giương cung, một mũi tên bắn thẳng về phía Lăng Kha.
Lăng Kha chỉ còn một tay vẫn kịp vung đao gạt mũi tên ấy, nhưng tiếp đó là vô số tên khác ào ạt bắn tới.
Một thiếu niên toàn thân đẫm máu lao tới, che chở cho hắn trong cơn mưa tên.
Song trong cảnh ngộ này, ai cũng chẳng thể bảo vệ được ai nữa rồi.
Toàn thân Lưu Cố cắm đầy tên, mà Lăng Kha cũng chẳng mấy chốc đẫm máu khắp mình.
Tại điện Tiêu Phòng, Lăng hoàng hậu đứng nơi cao các, một thị nữ quỳ một gối bên cạnh, bẩm lại tin tức ngoài cung môn.
Bạn đang đọc truyện tại rungtruyen.com. Chúc vui vẻ!!!
Lăng hoàng hậu khẽ nhắm mắt, trong đáy mắt không có hối hận, cũng không có nước mắt.
Đi đến bước này, không phải lỗi của bà, không phải lỗi của Tư Biến, lại càng không phải lỗi của đệ đệ bà. Nếu chẳng có lỗi, thì cần gì phải hối hận? Mà đã dốc hết toàn lực giữa tuyệt cảnh này không thẹn với lòng, thì cũng chẳng cần nước mắt.
“Ký Hà.”
“Có nô tỳ.”
“Mang theo Ngu nhi và Tòng Nam rời khỏi nơi này, đi tìm Tư Thoái, nói với nó, phải nghe lời. Mọi chuyện đến đây thôi, càng lui càng tốt.”
Thị nữ Ký Hà nghe vậy ngẩng đầu: “Tiểu quân, vậy còn người…”
Lời chưa dứt, nàng kinh hoảng vươn tay ra, nhưng chỉ kịp chạm vào vạt áo lụa.
Đêm xuân tháng Giêng, Lăng hoàng hậu từ trên cao các lao mình xuống.
Gió tuyết vù qua bên tai, trong khoảnh khắc cái chết cận kề, ký ức đời bà hiện lên như thước phim đảo ngược, cuối cùng dừng lại ở hình ảnh thuở nhỏ cùng đệ đệ chăn dê, chân trần chạy nhảy trên thảo nguyên.
Một lần chăn dê, nghe thấy tiếng vó ngựa, bà kéo đệ đệ nấp sau thân cây lớn, thấy một đội kỵ binh phi nhanh lướt qua.
Đội người kia chẳng oai vệ gì, thoạt nhìn chỉ là một đám thảo khấu nhỏ nhoi trong loạn thế, đao kiếm cũ nát, chỉ có lá cờ thêu một chữ bà lúc ấy không biết đọc. Mãi nhiều năm sau, bà mới biết đó là chữ “Lưu”.
Từ đó về sau, bà và đệ đệ gắn chặt với cái họ ấy, đến chết mới dứt.
Tiếng vó ngựa vọng về tựa từ giấc mộng xưa của Lăng hoàng hậu, người cưỡi ngựa là đứa con trai út chẳng nghe lời của bà.
Trước đêm chính đán, Lưu Kỳ phụng mệnh mẫu thân, rời Trường An hai trăm dặm để tìm tiên y cho phụ hoàng.
Lưu Kỳ vốn không muốn đi. Hắn vừa về chưa bao lâu, lại mới hôm qua còn nói với mẫu hậu về mối nghi ngờ trong lòng, nhưng mẫu hậu không cho hắn mở miệng, chỉ mỉm cười bảo hắn: báo hiếu với phụ hoàng mới là đạo lý.
Lưu Kỳ ngẫm nghĩ, thấy cũng đúng. Phụ hoàng là chủ thiên hạ, chỉ cần người vui vẻ yên lòng, thì còn gì là tai họa không vượt qua nổi?
Huống hồ, tai họa… thật sự có thể từ trên trời rơi xuống sao?
Trước khi rời kinh hai hôm, hắn đến thăm phụ hoàng. Phụ hoàng còn ném cho hắn thanh kiếm gỗ đào, bảo thử xem kiếm pháp của hắn có khá hơn không. Hắn đắc ý, phụ hoàng mệt tới thở hổn hển, ngồi luôn xuống bậc đá trước điện mà nói: “E rằng hai năm nữa sẽ bị ngươi – đứa nhỏ nghịch ngợm – đánh bại mất.”
Hắn còn chưa kịp hân hoan, phụ hoàng đã chuyển sang khảo hỏi kinh sử. Hắn chột dạ, liền chạy đi cầu cứu huynh trưởng.
Phụ hoàng hôm ấy còn cười rất tươi.
Nhưng lúc này…
Lưu Kỳ về kinh sớm, phóng ngựa lao tới trước cung môn, đập vào mắt hắn là thi thể tan tác của cữu phụ và huynh trưởng.
Bốn người theo bên hắn là cấm quân thân cận của thiên tử, mang theo lệnh tiết hoàng gia, nên dọc đường không ai dám ngăn cản.
Cùng lúc đó, một cấm quân từ trong cung bước ra, mang theo tin tức: Lăng hoàng hậu đã chịu tử hình.
Tử hình… tử hình?
Trong khoảnh khắc, Lưu Kỳ chẳng phân rõ thật giả, cũng không còn nghe được âm thanh nào nữa, hắn chỉ thấy Chúc Chấp tay cầm kiếm, chọc ngoáy thi thể cữu phụ đã nát vụn.
Hắn rút kiếm lao lên.
Song trong chớp mắt, một mũi tên ngắn từ đâu bay tới, cắm phập vào chân trái hắn, chặn lại bước tiến.
Lưu Kỳ khụy xuống, vẫn muốn vùng dậy, nhưng Chúc Chấp đã bật cười lạnh, ra hiệu cho thuộc hạ giương cung về phía hắn.
“To gan!”
Một tiếng quát vang lên, áo choàng đen tung bay, một thân ảnh uy nghi đứng chắn trước mặt Lưu Kỳ.
Chúc Chấp híp mắt nhìn người vừa tới – kẻ chẳng màng né tránh nghi kỵ, lại dám xuất hiện ở nơi này – chính là Lỗ hầu Phùng Hi.
Lão nhân ấy cất giọng trầm mạnh:
“Chưa nói đến việc đứa nhỏ mới về, chưa rõ tình hình! Nhưng hắn là con của bệ hạ, xử trí ra sao chỉ có bệ hạ định đoạt. Kẻ nào dám vượt quyền, đều nên lấy tội mưu hại hoàng tử mà luận!”
Lỗ hầu cúi xuống, ôm chặt đứa trẻ đang lệ tuôn đầy mặt trong lòng.
Là một khai quốc công thần từng tung hoành chiến trường, Lỗ hầu tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn đủ sức ôm trọn một đứa nhỏ bị thương vào lòng.
Lưu Kỳ không rõ bản thân bị giữ chặt trong bao lâu. Hắn gào khóc điên cuồng giữa nền tuyết đỏ ngầu, giãy giụa như kẻ bị đày xuống địa ngục.
Không biết bao lâu sau, tiếng bước chân vội vã lướt qua, cho đến khi một người dừng lại trước mặt hắn, chậm rãi quỳ xuống.
Trong nền tuyết nhuốm máu, một hộp gấm nằm lặng lẽ, vài viên đan dược màu nâu vương vãi xung quanh.
Đó là “tiên dược” mà Lưu Kỳ cầu về cho phụ hoàng. Vị tiên y kia tuổi cao sức yếu, đi lại chậm chạp, Lưu Kỳ vì muốn nhanh chóng hồi kinh, đã để người đi sau hộ tống y sư, còn bản thân thì ngày đêm không nghỉ phi ngựa về trước.
Lúc này, những viên thuốc được người nọ nhặt lại từng viên, đặt vào hộp gấm, đưa trả cho hắn.
Lưu Kỳ ngẩng đầu nhìn theo bàn tay ấy, thấy một gương mặt nghiêm nghị với chòm râu ngắn – chính là Nghiêm tướng quốc.
Người kia để lại một câu:
“Đây là binh khí của một đứa trẻ, lục hoàng tử hãy biết cách dùng.”
Trẻ nhỏ, dẫu ôm bao oán hận, cũng không thể phá được tường đồng vách sắt của cấm quân.
Trẻ nhỏ nên cầm lấy thứ vũ khí thuộc về mình, dùng vũ khí đó để tranh lấy quyền được sống sót, trưởng thành – và có lẽ, nhiều hơn thế.
Bạn có thể dùng phím mũi tên ← → hoặc WASD để lùi/sang chương.
Báo lỗi Bình luận
Truyện Hot Mới
Danh sách chương









