Sau khi thời gian và địa điểm của vòng ba và bốn cuộc thi viết văn được ấn định, Trương Tự Hoa gọi Nhiếp Thanh Châu đến văn phòng, đưa tận tay anh tờ thông báo.
“Chủ nhật tuần này ạ.” Nhiếp Thanh Châu nhìn tờ thông báo, khẽ nhướng mày: “Địa điểm là ở… trường Trung học Chính Nhất?”
“Đúng vậy, có chuyện gì sao?”
Nhiếp Thanh Châu lắc đầu, mỉm cười: “Dạ không có gì, chỉ là duyên phận ghê.”
Cuối tuần, chiếc xe mười chỗ của trường Trung học số Một Thường Xuyên chở năm học sinh và một giáo viên thẳng tiến lên tỉnh, đến chính nơi quen thuộc nhất của Nhiếp Thanh Châu để tham gia cuộc thi.
Buổi sáng thi viết tại chỗ kết thúc lúc mười giờ rưỡi, các giáo viên sẽ chấm bài rồi công bố kết quả vào lúc mười hai giờ rưỡi, ai đỗ sẽ tiếp tục thi vòng bốn vào hai giờ chiều.
Nhiếp Thanh Châu trở lại trường Trung học Chính Nhất mà cứ như về nhà. Trong khi các bạn học sinh khác còn đang chăm chú nhìn bảng thông báo phân phòng thi dán ở cổng, nghiên cứu bản đồ trường, thì anh chỉ cần liếc qua phòng thi của mình, chẳng thèm để mắt đến những biển chỉ dẫn dán dưới đất, xách cặp đi vòng qua mấy con đường lớn ngõ nhỏ, nhanh chóng tìm thấy phòng học của mình.
Thậm chí trên đường đi, anh còn nhiệt tình chỉ lối cho một thí sinh trường khác bị lạc.
Nhiếp Thanh Châu bước vào phòng học, ngồi xuống vị trí của mình. Ngoài cửa sổ, những cây ngô đồng và ngân hạnh cổ thụ được cắt tỉa gọn gàng, hoa anh đào đã tàn phai chỉ còn lại một màu xanh biếc phủ kín tán cây. Vài người thợ đang cầm con lăn sơn lại mái nhà và những bức tường.
Trường Trung học Chính Nhất trước nay vẫn luôn bề thế như vậy, tường ngả màu là sơn lại, sàn nhà thỉnh thoảng lại được đánh bóng, lúc nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, những tấm bảng đen còn mới tinh cũng được thay mới toàn bộ. Từ ngôi trường đến học sinh, tất cả đều toát lên vẻ tươm tất ưu tú, ung dung hoa lệ.
Nhiếp Thanh Châu bất giác nghĩ đến những bức tường tróc sơn, nền xi măng phải tưới nước cho đỡ bụi, và cả sân thể dục cỏ dại mọc um tùm của trường Trung học số Một Thường Xuyên.
Giờ đây, anh dường như lại yêu nơi thứ hai hơn.
Tại ngôi trường cũ thân quen này, Nhiếp Thanh Châu hoàn thành bài thi viết buổi sáng, thong thả nộp bài sớm rồi ra cổng trường tập trung với các bạn. Thầy giáo dạy Văn lớp 10/1 dẫn đội nói muốn mời cả nhóm đi ăn, hỏi xem các cô cậu học trò muốn ăn gì.
Cả đám lập tức xúm lại ríu rít bàn tán. Những đứa trẻ mười bảy tuổi từ miền xa lên tỉnh, đứa nào cũng háo hức được ăn ngon chơi vui.
Nhiếp Thanh Châu chỉ cúi đầu bấm điện thoại, đến khi thầy giáo hỏi ý kiến, anh mới ngẩng mặt lên khỏi màn hình, mỉm cười nói: “Trong con hẻm đối diện có một tiệm pizza do người Ý mở rất ngon, nhưng giá trung bình phải hơn một trăm tệ một người. Phố sau trường có một quán ăn Hàn, canh đậu phụ rất chuẩn vị. Còn có một tiệm cơm hộp đã mở nhiều năm, được dân Chính Nhất ngầm công nhận là vua cơm hộp. Còn nếu muốn ăn món Trung thì chắc phải đi xa hơn một chút, gần đây toàn là đồ ăn vặt thôi ạ.”
Thầy giáo và các học sinh đồng loạt quay sang nhìn anh.
Vào cái thời mà các ứng dụng đánh giá ẩm thực vẫn chưa phổ biến, Nhiếp Thanh Châu chẳng khác nào một cuốn cẩm nang di động.
Nhiếp Thanh Châu lắc lắc chiếc điện thoại: “Em vừa mới hỏi một người bạn ở Chính Nhất.”
“Ồ, em còn có bạn ở Chính Nhất cơ à?” Thầy giáo ngạc nhiên hỏi.
“Tình cờ quen thôi ạ.” Nhiếp Thanh Châu mỉm cười, nhẹ nhàng cho qua chuyện. Anh lại cúi đầu, soạn nốt dòng tin nhắn đang dang dở. Trên màn hình điện thoại hiện lên đoạn hội thoại dài dằng dặc của hai người.
– Vòng đầu vừa xong, bọn tớ đang tìm chỗ ăn. Cậu ăn macaron bao giờ chưa? – Chưa, là gì vậy?
– Là một loại bánh ngọt, tớ sẽ mang một phần về cho cậu và bà.
– Ừ, vòng sau cố lên nhé.
– Danh sách còn chưa có, tớ không chắc vào được đâu.
– Chắc chắn sẽ vào được.
– (^v^) Cô giáo Hạ, cô cũng phải cho em một cơ hội để khiêm tốn chứ.
Nhiếp Thanh Châu khẽ bật cười, gửi dòng tin nhắn đi.
Trong lúc đó, thầy giáo và các bạn đã bàn bạc xong. Họ quyết định đi thẳng đến con phố sau trường Trung học Chính Nhất để thử “vua cơm hộp” trong truyền thuyết.
Nhiếp Thanh Châu cất điện thoại, đang định đi cùng mọi người thì nghe thấy Văn Chung ở bên cạnh nói: “Thưa thầy, em không thấy muốn ăn lắm, mọi người cứ đi đi ạ, em quay lại trường Chính Nhất đợi.”
Hôm nay sắc mặt Văn Chung trắng bệch, quả thật trông không được khỏe.
Dù thầy giáo đã quan tâm hỏi han, nhưng cũng không lay chuyển được Văn Chung. Cậu ta tách khỏi đoàn, một mình quay bước, bóng lưng khuất dần sau cánh cổng trường Chính Nhất. Có một bạn học lớp 10/2 nói với giọng đầy vẻ giễu cợt: “Không phải là chê cơm hộp rẻ tiền nên không thèm ăn đấy chứ? Đã không còn là nhất khối nữa rồi, còn kiêu cho ai xem.”
Nhiếp Thanh Châu lẳng lặng nhìn theo bóng lưng của Văn Chung, khẽ cau mày.
Quán cơm hộp trứ danh này quả không ngoài dự đoán, nhận được lời khen tấm tắc từ tất cả mọi người. Khi cả nhóm đang quây quần bên bàn ăn, điện thoại của thầy giáo đổ chuông, cô báo tin đã có kết quả sớm, là Văn Chung chụp lại danh sách rồi gửi cho thầy.
“Ây da, vòng này loại gắt thật, chỉ có mỗi Nhiếp Thanh Châu vào được vòng trong.” Thầy giáo nhìn danh sách, chậc lưỡi cảm thán.
Lời thầy vừa dứt, mấy học sinh còn lại đều lộ vẻ tiếc nuối, ánh mắt nhìn Nhiếp Thanh Châu không giấu được sự ngưỡng mộ. Kết quả này cũng chẳng có gì bất ngờ. Sau mỗi kỳ thi, bài văn của Nhiếp Thanh Châu đều được in ra làm bài mẫu cho cả khối, ai cũng biết rõ trình độ viết văn của anh.
Nhiếp Thanh Châu đặt đũa xuống nói: “Vậy em vào thi đây, mọi người còn phải đợi ở ngoài lâu lắm. Hay là thế này, gần đây có một con phố, có một nhà sách rất lớn và mấy tiệm văn phòng phẩm độc đáo, mọi người có thể qua đó dạo chơi.”
Thầy giáo dẫn đội cười nói: “Em cứ như chủ nhà tiếp khách ấy nhỉ? Cứ tập trung thi cho tốt là được rồi, biết chưa!”
Nhiếp Thanh Châu khẽ mỉm cười.
Anh nán lại tiệm cơm thêm một lúc, đợi đến gần giờ thi mới tạm biệt thầy giáo và các bạn, xách cặp đi về phía cổng sau của trường Trung học Chính Nhất.
Chú bảo vệ ở cổng sau vẫn là ông chú gầy gầy thấp thấp, tính tình nóng nảy ngày nào, giọng oang oang hét lớn: “Còn đi dạo cái gì nữa? Cổng sau sắp đóng rồi, nhanh lên!”
Nhiếp Thanh Châu không nhịn được cười, lòng bỗng thấy nhớ nhung tiếng gọi đã lâu không nghe này đến lạ. Anh chạy lon ton đáp lại: “Đợi cháu với! Cháu tới ngay!”
Anh rảo bước vào cổng sau, đi qua con đường nhỏ lát sỏi để đến dãy phòng học. Anh chọn một lối đi tắt, hai bên đường cỏ mọc xanh rì, vắng lặng không một bóng người. Vừa rẽ qua một khúc quanh, anh bất chợt nhìn thấy bóng dáng của Văn Chung ở phía bên kia một bãi cỏ rộng.
Anh chàng lập dị này không biết đã lang thang đến đó từ lúc nào, đang vịn vào tay ghế, khom cả người xuống, trông vô cùng đau đớn.
Nhiếp Thanh Châu bước chậm lại. Anh tiến về phía trước hai bước, nhưng rồi lại không yên tâm, bèn đổi hướng đi vòng ra trước mặt Văn Chung. Vừa nhìn rõ, anh không khỏi hốt hoảng, sắc mặt Văn Chung lúc này đã trắng bệch như tờ giấy, mồ hôi lạnh túa ra, chảy ròng ròng trên trán.
Nhiếp Thanh Châu giật mình, vội đặt chiếc cặp xuống cạnh ghế rồi cúi xuống nhìn Văn Chung: “Cậu làm sao thế? Có ổn không?”
Lời anh vừa dứt, Văn Chung đã “ọe” một tiếng nôn thốc nôn tháo ra bãi cỏ bên ghế. Vì không ăn trưa, nên đến cuối cùng cậu ta chỉ còn nôn ra mật xanh mật vàng.
Nhiếp Thanh Châu né nhanh nên không bị dính bẩn, nhưng nhìn cảnh tượng này cũng không khỏi giật mình. Anh vội vàng vỗ nhẹ lên lưng Văn Chung, lấy bình nước từ trong cặp ra: “Cậu còn chịu được không? Súc miệng rồi uống chút nước nhé?”
Văn Chung không nhận lấy bình nước, cậu ta chỉ ngẩng lên nhìn Nhiếp Thanh Châu bằng ánh mắt thất thần, rồi nghẹo đầu sang một bên, ngất lịm đi.
Từ xa vọng lại tiếng chuông báo hiệu cuộc thi sắp bắt đầu. Nhiếp Thanh Châu liếc nhìn dãy phòng học, rồi quả quyết quay lại, xốc Văn Chung từ trên ghế dậy, cõng cậu ta đi đường tắt đến phòng y tế.
Khi tỉnh lại, Văn Chung thấy mình đang nằm trên giường, đập vào mắt là trần nhà sáng choang, trong mũi sực nức mùi thuốc sát trùng. Cậu ta mơ màng ngồi dậy, giữa không gian hoàn toàn xa lạ, người duy nhất cậu ta nhận ra là Nhiếp Thanh Châu đang ngồi trên chiếc ghế bên cạnh.
Nhiếp Thanh Châu đang khoanh tay nhìn cậu ta, thấy cậu ta đã tỉnh liền đưa cho cậu ta cốc nước và vỉ thuốc đặt bên cạnh: “Nè, bác sĩ dặn đợi cậu tỉnh lại thì uống cái này.”
Văn Chung ngây người mất một lúc, rồi đột nhiên nhận ra điều gì đó: “Cậu… sao cậu lại ở đây? Bây giờ không phải cậu nên đang trong phòng thi sao?”
Cậu ta vừa nói vừa nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã ba giờ mười, cuộc thi đang diễn ra.
Nhiếp Thanh Châu dúi cốc nước vào tay Văn Chung: “Cậu ngất ngay trước mặt tôi, lẽ nào tôi lại trơ mắt đứng nhìn?”
“Cậu không đi thi?”
“Không đi.”
“Sao cậu không gọi thầy giáo tới?”
“Có gọi rồi, nhưng thầy đến muộn quá, tôi vẫn không vào kịp. Giờ thầy ra ngoài mua thuốc cho cậu rồi.”
Văn Chung mở to mắt nhìn Nhiếp Thanh Châu đang thản nhiên như không, cậu ta hoàn toàn không thể hiểu nổi người này đang nghĩ gì.
“Cậu đã vào đến vòng bốn rồi, chỉ cần giành được giải Nhất cấp tỉnh là cậu sẽ có vé tuyển thẳng, cậu cứ thế mà bỏ cuộc sao?”
Nhiếp Thanh Châu khẽ mỉm cười.
Vốn dĩ anh cũng chẳng định tranh giành giải tỉnh gì cả. Thực tế, trước khi vào thi vòng bốn, anh còn đang nghĩ xem làm thế nào để viết hỏng bài một cách kín đáo. Chuyện Văn Chung ngất xỉu vừa hay lại cho anh một cái cớ hoàn hảo để không phải thi vòng sau.
Thời cấp ba, tài viết văn của anh cũng thuộc hàng nổi trội giữa bạn bè đồng trang lứa. Nhưng giờ đây, khi nhìn lại những bài văn mình viết thuở ấy, anh chỉ thấy ngượng chín cả mặt, chỉ ước có cái lỗ nào để chui xuống.
Anh là một người trưởng thành hai mươi bảy tuổi, hơn những đứa trẻ này cả mười năm tuổi đời, dĩ nhiên vốn sống cũng dày dặn hơn, cách nhìn nhận sự việc sâu sắc hơn, góc nhìn đa chiều hơn, ngòi bút cũng chín chắn hơn, bài văn tự nhiên sẽ hay hơn.
Việc anh tham gia cuộc thi dành cho khối trung học vốn dĩ đã là một sự gian lận, chẳng qua cũng chỉ vì tiền thưởng. Lẽ nào anh lại định cậy vào lợi thế tuổi tác của mình để đi bắt nạt những đứa trẻ này ư?
Đối với những cô cậu học trò này, giải thưởng cấp tỉnh có thể là tấm vé thông hành đến ngôi trường đại học mơ ước, chúng đã phải dùi mài kinh sử, bỏ ra biết bao công sức vì nó. Còn anh, vốn chẳng có ý định chọn ban Xã hội, giải thưởng này với anh cũng chẳng để làm gì, tranh giành với chúng làm chi?
Anh vẫn chưa đến mức hư vinh tới độ phải đi tranh cúp với học sinh cấp ba để chứng tỏ bản lĩnh của mình.
Nhiếp Thanh Châu cười nói: “Vào được vòng bốn thì mặc định là có giải Ba rồi.”
Văn Chung tức giận đáp: “Giải Ba thì có tác dụng gì? Tuyển thẳng chỉ công nhận giải Nhất với giải Nhì thôi.”
“Giải Ba có tiền thưởng mà.”
Văn Chung nhìn Nhiếp Thanh Châu như nhìn người ngoài hành tinh, một lúc lâu sau mới thu lại ánh mắt, cầm cốc nước uống thuốc, dường như đã hoàn toàn từ bỏ việc giao tiếp với anh.
“Bác sĩ nói cậu nôn mửa rồi ngất đi là do tinh thần căng thẳng, mệt mỏi quá độ. Tôi thấy cậu có quầng thâm mắt, hôm qua chắc chỉ ngủ được vài tiếng thôi phải không? Có chuyện gì vậy? Là vì lần trước thi không tốt nên áp lực quá à?”
Nhiếp Thanh Châu chuyển chủ đề sang Văn Chung, nhưng cậu ta làm như không nghe thấy, chẳng có ý định trả lời.
“Trông cậu bây giờ, học hành có vẻ khổ sở quá nhỉ?”
“Dĩ nhiên là không bì được với thiên tài như cậu rồi, thi cử mà nói bỏ là bỏ, nhẹ nhàng tiến cả ngàn bậc. Học hành đối với cậu chắc cũng chỉ như trò chơi thôi nhỉ.” Văn Chung lạnh lùng châm chọc.
Nhiếp Thanh Châu xua tay, rồi ngồi thẳng người, ra vẻ nghiêm túc nói: “Đừng nói bừa, tôi chăm chỉ và nỗ lực lắm đấy nhé.”
Anh ngừng giây lát rồi nói tiếp: “Nhưng mà tôi thật sự có quen một người, học hành với cậu ấy đúng là như chơi vậy, một thiên tài toán học thực thụ.”
“Thời cấp ba, toán của cậu ấy luôn giỏi nhất khối, thường xuyên được điểm tuyệt đối. Dù là bài toán khó đến đâu, cậu ấy chỉ cần nhìn một lúc là giải được, chẳng hề chau mày, trước kỳ thi cũng chẳng bao giờ ôn tập. Bọn tôi đều coi cậu ấy như thần thánh.”
“Sau này, cậu ấy đỗ vào khoa Toán của Đại học Bắc Kinh, rồi lại vào lớp chọn của khoa. Đến lúc đó cậu ấy mới phát hiện ra, mình là người duy nhất trong lớp vào được bằng kỳ thi đại học, những người còn lại đều là chủ nhân của các giải đặc biệt, huy chương vàng từ đủ mọi cuộc thi toán học, được tuyển thẳng vào lớp này. Những người trong lớp đó đều là thiên tài giữa những thiên tài.”
“Cậu ấy nói, những năm đại học là quãng thời gian cậu ấy đã nỗ lực nhiều nhất trong đời. Cậu ấy chưa từng cố gắng đến thế, nhưng thành tích cũng chỉ lẹt đẹt ở mức trung bình yếu của lớp. Đến năm ba, năm tư, cậu ấy đã hoàn toàn buông xuôi.”
“Lần cuối cùng tôi gặp cậu ấy là lúc cậu ấy tốt nghiệp đại học đi tìm việc. Cậu ấy nói với tôi rằng cả đời này cũng không muốn dính dáng đến bất cứ thứ gì liên quan đến toán học nữa.”
Văn Chung trầm ngâm.
Nhiếp Thanh Châu tựa lưng vào ghế, cảm thán: “Trong mắt người khác, cuộc đời cậu ấy hẳn là vô cùng hào nhoáng, thuận buồm xuôi gió nhỉ. Với tấm bằng đó, tìm việc chắc chắn không khó.”
“Chỉ là tôi vẫn còn nhớ thời cấp ba, mỗi khi nhắc đến toán học, ánh mắt cậu ấy sáng rực lên, cả con người như tỏa ra ánh hào quang. Thứ ánh sáng rực rỡ ấy, giờ đây đã không còn nữa.”
“Chủ nhật tuần này ạ.” Nhiếp Thanh Châu nhìn tờ thông báo, khẽ nhướng mày: “Địa điểm là ở… trường Trung học Chính Nhất?”
“Đúng vậy, có chuyện gì sao?”
Nhiếp Thanh Châu lắc đầu, mỉm cười: “Dạ không có gì, chỉ là duyên phận ghê.”
Cuối tuần, chiếc xe mười chỗ của trường Trung học số Một Thường Xuyên chở năm học sinh và một giáo viên thẳng tiến lên tỉnh, đến chính nơi quen thuộc nhất của Nhiếp Thanh Châu để tham gia cuộc thi.
Buổi sáng thi viết tại chỗ kết thúc lúc mười giờ rưỡi, các giáo viên sẽ chấm bài rồi công bố kết quả vào lúc mười hai giờ rưỡi, ai đỗ sẽ tiếp tục thi vòng bốn vào hai giờ chiều.
Nhiếp Thanh Châu trở lại trường Trung học Chính Nhất mà cứ như về nhà. Trong khi các bạn học sinh khác còn đang chăm chú nhìn bảng thông báo phân phòng thi dán ở cổng, nghiên cứu bản đồ trường, thì anh chỉ cần liếc qua phòng thi của mình, chẳng thèm để mắt đến những biển chỉ dẫn dán dưới đất, xách cặp đi vòng qua mấy con đường lớn ngõ nhỏ, nhanh chóng tìm thấy phòng học của mình.
Thậm chí trên đường đi, anh còn nhiệt tình chỉ lối cho một thí sinh trường khác bị lạc.
Nhiếp Thanh Châu bước vào phòng học, ngồi xuống vị trí của mình. Ngoài cửa sổ, những cây ngô đồng và ngân hạnh cổ thụ được cắt tỉa gọn gàng, hoa anh đào đã tàn phai chỉ còn lại một màu xanh biếc phủ kín tán cây. Vài người thợ đang cầm con lăn sơn lại mái nhà và những bức tường.
Trường Trung học Chính Nhất trước nay vẫn luôn bề thế như vậy, tường ngả màu là sơn lại, sàn nhà thỉnh thoảng lại được đánh bóng, lúc nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, những tấm bảng đen còn mới tinh cũng được thay mới toàn bộ. Từ ngôi trường đến học sinh, tất cả đều toát lên vẻ tươm tất ưu tú, ung dung hoa lệ.
Nhiếp Thanh Châu bất giác nghĩ đến những bức tường tróc sơn, nền xi măng phải tưới nước cho đỡ bụi, và cả sân thể dục cỏ dại mọc um tùm của trường Trung học số Một Thường Xuyên.
Giờ đây, anh dường như lại yêu nơi thứ hai hơn.
Tại ngôi trường cũ thân quen này, Nhiếp Thanh Châu hoàn thành bài thi viết buổi sáng, thong thả nộp bài sớm rồi ra cổng trường tập trung với các bạn. Thầy giáo dạy Văn lớp 10/1 dẫn đội nói muốn mời cả nhóm đi ăn, hỏi xem các cô cậu học trò muốn ăn gì.
Cả đám lập tức xúm lại ríu rít bàn tán. Những đứa trẻ mười bảy tuổi từ miền xa lên tỉnh, đứa nào cũng háo hức được ăn ngon chơi vui.
Nhiếp Thanh Châu chỉ cúi đầu bấm điện thoại, đến khi thầy giáo hỏi ý kiến, anh mới ngẩng mặt lên khỏi màn hình, mỉm cười nói: “Trong con hẻm đối diện có một tiệm pizza do người Ý mở rất ngon, nhưng giá trung bình phải hơn một trăm tệ một người. Phố sau trường có một quán ăn Hàn, canh đậu phụ rất chuẩn vị. Còn có một tiệm cơm hộp đã mở nhiều năm, được dân Chính Nhất ngầm công nhận là vua cơm hộp. Còn nếu muốn ăn món Trung thì chắc phải đi xa hơn một chút, gần đây toàn là đồ ăn vặt thôi ạ.”
Thầy giáo và các học sinh đồng loạt quay sang nhìn anh.
Vào cái thời mà các ứng dụng đánh giá ẩm thực vẫn chưa phổ biến, Nhiếp Thanh Châu chẳng khác nào một cuốn cẩm nang di động.
Nhiếp Thanh Châu lắc lắc chiếc điện thoại: “Em vừa mới hỏi một người bạn ở Chính Nhất.”
“Ồ, em còn có bạn ở Chính Nhất cơ à?” Thầy giáo ngạc nhiên hỏi.
“Tình cờ quen thôi ạ.” Nhiếp Thanh Châu mỉm cười, nhẹ nhàng cho qua chuyện. Anh lại cúi đầu, soạn nốt dòng tin nhắn đang dang dở. Trên màn hình điện thoại hiện lên đoạn hội thoại dài dằng dặc của hai người.
– Vòng đầu vừa xong, bọn tớ đang tìm chỗ ăn. Cậu ăn macaron bao giờ chưa? – Chưa, là gì vậy?
– Là một loại bánh ngọt, tớ sẽ mang một phần về cho cậu và bà.
– Ừ, vòng sau cố lên nhé.
– Danh sách còn chưa có, tớ không chắc vào được đâu.
– Chắc chắn sẽ vào được.
– (^v^) Cô giáo Hạ, cô cũng phải cho em một cơ hội để khiêm tốn chứ.
Nhiếp Thanh Châu khẽ bật cười, gửi dòng tin nhắn đi.
Trong lúc đó, thầy giáo và các bạn đã bàn bạc xong. Họ quyết định đi thẳng đến con phố sau trường Trung học Chính Nhất để thử “vua cơm hộp” trong truyền thuyết.
Nhiếp Thanh Châu cất điện thoại, đang định đi cùng mọi người thì nghe thấy Văn Chung ở bên cạnh nói: “Thưa thầy, em không thấy muốn ăn lắm, mọi người cứ đi đi ạ, em quay lại trường Chính Nhất đợi.”
Hôm nay sắc mặt Văn Chung trắng bệch, quả thật trông không được khỏe.
Dù thầy giáo đã quan tâm hỏi han, nhưng cũng không lay chuyển được Văn Chung. Cậu ta tách khỏi đoàn, một mình quay bước, bóng lưng khuất dần sau cánh cổng trường Chính Nhất. Có một bạn học lớp 10/2 nói với giọng đầy vẻ giễu cợt: “Không phải là chê cơm hộp rẻ tiền nên không thèm ăn đấy chứ? Đã không còn là nhất khối nữa rồi, còn kiêu cho ai xem.”
Nhiếp Thanh Châu lẳng lặng nhìn theo bóng lưng của Văn Chung, khẽ cau mày.
Quán cơm hộp trứ danh này quả không ngoài dự đoán, nhận được lời khen tấm tắc từ tất cả mọi người. Khi cả nhóm đang quây quần bên bàn ăn, điện thoại của thầy giáo đổ chuông, cô báo tin đã có kết quả sớm, là Văn Chung chụp lại danh sách rồi gửi cho thầy.
“Ây da, vòng này loại gắt thật, chỉ có mỗi Nhiếp Thanh Châu vào được vòng trong.” Thầy giáo nhìn danh sách, chậc lưỡi cảm thán.
Lời thầy vừa dứt, mấy học sinh còn lại đều lộ vẻ tiếc nuối, ánh mắt nhìn Nhiếp Thanh Châu không giấu được sự ngưỡng mộ. Kết quả này cũng chẳng có gì bất ngờ. Sau mỗi kỳ thi, bài văn của Nhiếp Thanh Châu đều được in ra làm bài mẫu cho cả khối, ai cũng biết rõ trình độ viết văn của anh.
Nhiếp Thanh Châu đặt đũa xuống nói: “Vậy em vào thi đây, mọi người còn phải đợi ở ngoài lâu lắm. Hay là thế này, gần đây có một con phố, có một nhà sách rất lớn và mấy tiệm văn phòng phẩm độc đáo, mọi người có thể qua đó dạo chơi.”
Thầy giáo dẫn đội cười nói: “Em cứ như chủ nhà tiếp khách ấy nhỉ? Cứ tập trung thi cho tốt là được rồi, biết chưa!”
Nhiếp Thanh Châu khẽ mỉm cười.
Anh nán lại tiệm cơm thêm một lúc, đợi đến gần giờ thi mới tạm biệt thầy giáo và các bạn, xách cặp đi về phía cổng sau của trường Trung học Chính Nhất.
Chú bảo vệ ở cổng sau vẫn là ông chú gầy gầy thấp thấp, tính tình nóng nảy ngày nào, giọng oang oang hét lớn: “Còn đi dạo cái gì nữa? Cổng sau sắp đóng rồi, nhanh lên!”
Nhiếp Thanh Châu không nhịn được cười, lòng bỗng thấy nhớ nhung tiếng gọi đã lâu không nghe này đến lạ. Anh chạy lon ton đáp lại: “Đợi cháu với! Cháu tới ngay!”
Anh rảo bước vào cổng sau, đi qua con đường nhỏ lát sỏi để đến dãy phòng học. Anh chọn một lối đi tắt, hai bên đường cỏ mọc xanh rì, vắng lặng không một bóng người. Vừa rẽ qua một khúc quanh, anh bất chợt nhìn thấy bóng dáng của Văn Chung ở phía bên kia một bãi cỏ rộng.
Anh chàng lập dị này không biết đã lang thang đến đó từ lúc nào, đang vịn vào tay ghế, khom cả người xuống, trông vô cùng đau đớn.
Nhiếp Thanh Châu bước chậm lại. Anh tiến về phía trước hai bước, nhưng rồi lại không yên tâm, bèn đổi hướng đi vòng ra trước mặt Văn Chung. Vừa nhìn rõ, anh không khỏi hốt hoảng, sắc mặt Văn Chung lúc này đã trắng bệch như tờ giấy, mồ hôi lạnh túa ra, chảy ròng ròng trên trán.
Nhiếp Thanh Châu giật mình, vội đặt chiếc cặp xuống cạnh ghế rồi cúi xuống nhìn Văn Chung: “Cậu làm sao thế? Có ổn không?”
Lời anh vừa dứt, Văn Chung đã “ọe” một tiếng nôn thốc nôn tháo ra bãi cỏ bên ghế. Vì không ăn trưa, nên đến cuối cùng cậu ta chỉ còn nôn ra mật xanh mật vàng.
Nhiếp Thanh Châu né nhanh nên không bị dính bẩn, nhưng nhìn cảnh tượng này cũng không khỏi giật mình. Anh vội vàng vỗ nhẹ lên lưng Văn Chung, lấy bình nước từ trong cặp ra: “Cậu còn chịu được không? Súc miệng rồi uống chút nước nhé?”
Văn Chung không nhận lấy bình nước, cậu ta chỉ ngẩng lên nhìn Nhiếp Thanh Châu bằng ánh mắt thất thần, rồi nghẹo đầu sang một bên, ngất lịm đi.
Từ xa vọng lại tiếng chuông báo hiệu cuộc thi sắp bắt đầu. Nhiếp Thanh Châu liếc nhìn dãy phòng học, rồi quả quyết quay lại, xốc Văn Chung từ trên ghế dậy, cõng cậu ta đi đường tắt đến phòng y tế.
Khi tỉnh lại, Văn Chung thấy mình đang nằm trên giường, đập vào mắt là trần nhà sáng choang, trong mũi sực nức mùi thuốc sát trùng. Cậu ta mơ màng ngồi dậy, giữa không gian hoàn toàn xa lạ, người duy nhất cậu ta nhận ra là Nhiếp Thanh Châu đang ngồi trên chiếc ghế bên cạnh.
Nhiếp Thanh Châu đang khoanh tay nhìn cậu ta, thấy cậu ta đã tỉnh liền đưa cho cậu ta cốc nước và vỉ thuốc đặt bên cạnh: “Nè, bác sĩ dặn đợi cậu tỉnh lại thì uống cái này.”
Văn Chung ngây người mất một lúc, rồi đột nhiên nhận ra điều gì đó: “Cậu… sao cậu lại ở đây? Bây giờ không phải cậu nên đang trong phòng thi sao?”
Cậu ta vừa nói vừa nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã ba giờ mười, cuộc thi đang diễn ra.
Nhiếp Thanh Châu dúi cốc nước vào tay Văn Chung: “Cậu ngất ngay trước mặt tôi, lẽ nào tôi lại trơ mắt đứng nhìn?”
“Cậu không đi thi?”
“Không đi.”
“Sao cậu không gọi thầy giáo tới?”
“Có gọi rồi, nhưng thầy đến muộn quá, tôi vẫn không vào kịp. Giờ thầy ra ngoài mua thuốc cho cậu rồi.”
Văn Chung mở to mắt nhìn Nhiếp Thanh Châu đang thản nhiên như không, cậu ta hoàn toàn không thể hiểu nổi người này đang nghĩ gì.
“Cậu đã vào đến vòng bốn rồi, chỉ cần giành được giải Nhất cấp tỉnh là cậu sẽ có vé tuyển thẳng, cậu cứ thế mà bỏ cuộc sao?”
Nhiếp Thanh Châu khẽ mỉm cười.
Vốn dĩ anh cũng chẳng định tranh giành giải tỉnh gì cả. Thực tế, trước khi vào thi vòng bốn, anh còn đang nghĩ xem làm thế nào để viết hỏng bài một cách kín đáo. Chuyện Văn Chung ngất xỉu vừa hay lại cho anh một cái cớ hoàn hảo để không phải thi vòng sau.
Thời cấp ba, tài viết văn của anh cũng thuộc hàng nổi trội giữa bạn bè đồng trang lứa. Nhưng giờ đây, khi nhìn lại những bài văn mình viết thuở ấy, anh chỉ thấy ngượng chín cả mặt, chỉ ước có cái lỗ nào để chui xuống.
Anh là một người trưởng thành hai mươi bảy tuổi, hơn những đứa trẻ này cả mười năm tuổi đời, dĩ nhiên vốn sống cũng dày dặn hơn, cách nhìn nhận sự việc sâu sắc hơn, góc nhìn đa chiều hơn, ngòi bút cũng chín chắn hơn, bài văn tự nhiên sẽ hay hơn.
Việc anh tham gia cuộc thi dành cho khối trung học vốn dĩ đã là một sự gian lận, chẳng qua cũng chỉ vì tiền thưởng. Lẽ nào anh lại định cậy vào lợi thế tuổi tác của mình để đi bắt nạt những đứa trẻ này ư?
Đối với những cô cậu học trò này, giải thưởng cấp tỉnh có thể là tấm vé thông hành đến ngôi trường đại học mơ ước, chúng đã phải dùi mài kinh sử, bỏ ra biết bao công sức vì nó. Còn anh, vốn chẳng có ý định chọn ban Xã hội, giải thưởng này với anh cũng chẳng để làm gì, tranh giành với chúng làm chi?
Anh vẫn chưa đến mức hư vinh tới độ phải đi tranh cúp với học sinh cấp ba để chứng tỏ bản lĩnh của mình.
Nhiếp Thanh Châu cười nói: “Vào được vòng bốn thì mặc định là có giải Ba rồi.”
Văn Chung tức giận đáp: “Giải Ba thì có tác dụng gì? Tuyển thẳng chỉ công nhận giải Nhất với giải Nhì thôi.”
“Giải Ba có tiền thưởng mà.”
Văn Chung nhìn Nhiếp Thanh Châu như nhìn người ngoài hành tinh, một lúc lâu sau mới thu lại ánh mắt, cầm cốc nước uống thuốc, dường như đã hoàn toàn từ bỏ việc giao tiếp với anh.
“Bác sĩ nói cậu nôn mửa rồi ngất đi là do tinh thần căng thẳng, mệt mỏi quá độ. Tôi thấy cậu có quầng thâm mắt, hôm qua chắc chỉ ngủ được vài tiếng thôi phải không? Có chuyện gì vậy? Là vì lần trước thi không tốt nên áp lực quá à?”
Nhiếp Thanh Châu chuyển chủ đề sang Văn Chung, nhưng cậu ta làm như không nghe thấy, chẳng có ý định trả lời.
“Trông cậu bây giờ, học hành có vẻ khổ sở quá nhỉ?”
“Dĩ nhiên là không bì được với thiên tài như cậu rồi, thi cử mà nói bỏ là bỏ, nhẹ nhàng tiến cả ngàn bậc. Học hành đối với cậu chắc cũng chỉ như trò chơi thôi nhỉ.” Văn Chung lạnh lùng châm chọc.
Nhiếp Thanh Châu xua tay, rồi ngồi thẳng người, ra vẻ nghiêm túc nói: “Đừng nói bừa, tôi chăm chỉ và nỗ lực lắm đấy nhé.”
Anh ngừng giây lát rồi nói tiếp: “Nhưng mà tôi thật sự có quen một người, học hành với cậu ấy đúng là như chơi vậy, một thiên tài toán học thực thụ.”
“Thời cấp ba, toán của cậu ấy luôn giỏi nhất khối, thường xuyên được điểm tuyệt đối. Dù là bài toán khó đến đâu, cậu ấy chỉ cần nhìn một lúc là giải được, chẳng hề chau mày, trước kỳ thi cũng chẳng bao giờ ôn tập. Bọn tôi đều coi cậu ấy như thần thánh.”
“Sau này, cậu ấy đỗ vào khoa Toán của Đại học Bắc Kinh, rồi lại vào lớp chọn của khoa. Đến lúc đó cậu ấy mới phát hiện ra, mình là người duy nhất trong lớp vào được bằng kỳ thi đại học, những người còn lại đều là chủ nhân của các giải đặc biệt, huy chương vàng từ đủ mọi cuộc thi toán học, được tuyển thẳng vào lớp này. Những người trong lớp đó đều là thiên tài giữa những thiên tài.”
“Cậu ấy nói, những năm đại học là quãng thời gian cậu ấy đã nỗ lực nhiều nhất trong đời. Cậu ấy chưa từng cố gắng đến thế, nhưng thành tích cũng chỉ lẹt đẹt ở mức trung bình yếu của lớp. Đến năm ba, năm tư, cậu ấy đã hoàn toàn buông xuôi.”
“Lần cuối cùng tôi gặp cậu ấy là lúc cậu ấy tốt nghiệp đại học đi tìm việc. Cậu ấy nói với tôi rằng cả đời này cũng không muốn dính dáng đến bất cứ thứ gì liên quan đến toán học nữa.”
Văn Chung trầm ngâm.
Nhiếp Thanh Châu tựa lưng vào ghế, cảm thán: “Trong mắt người khác, cuộc đời cậu ấy hẳn là vô cùng hào nhoáng, thuận buồm xuôi gió nhỉ. Với tấm bằng đó, tìm việc chắc chắn không khó.”
“Chỉ là tôi vẫn còn nhớ thời cấp ba, mỗi khi nhắc đến toán học, ánh mắt cậu ấy sáng rực lên, cả con người như tỏa ra ánh hào quang. Thứ ánh sáng rực rỡ ấy, giờ đây đã không còn nữa.”
Bạn có thể dùng phím mũi tên ← → hoặc WASD để lùi/sang chương.
Báo lỗi Bình luận
Truyện Hot Mới
Danh sách chương









