Hôn sự của Vương Di Nhiên cùng Hà Nguyên Khải đã định vào cuối tháng bảy.

Sau khi biết được tâm ý của Châu Đàn, Vương Di Nhiên đã chủ trương để chàng và Hà Nguyên Khải cử hành hôn sự trong cùng ngày, còn Khúc Du ở thành Nhược Châu vốn không có thân quyến, vừa vặn có thể xuất giá từ phủ Vương gia.

Vừa bước sang tháng bảy, Khúc Du đã dọn đến phủ của Vương Di Nhiên ở một thời gian ngắn.

Nàng lúc này mới hay, nghi thức lúc thành hôn trước kia quả thật quá đỗi giản đơn, dẫu cho nơi biên thùy chẳng trọng những điều ấy bằng Biện Đô, nhưng nếu thực hiện hết thảy các lễ nghi cần có, ít nhất cũng phải tốn công sức vài ba tháng trời.

Cảnh tượng như lúc Châu Đàn bị ám sát, chỉ mất ba bốn ngày là có thể xuất giá thành môn, e là chỉ có hoàng đế ban hôn mới làm được.

Theo phong tục Nhược Châu, nữ tử trước khi xuất giá một tháng không được gặp mặt phu quân, điều này khiến Khúc Du cảm thấy khó mà tưởng tượng được.

Nàng từ trước đã cùng Châu Đàn sớm tối bên nhau, lúc này lại đang lúc tình nồng ý đậm, nhưng tiếc thay Vương Di Nhiên cứ bảo là không cát tường, mãi đến hôm Thất Tịch mới cho Khúc Du tìm được cơ hội, lén lút trốn khỏi phủ.

Châu Đàn dẫn nàng cưỡi ngựa nhanh vào phố thị, gió chiều tà lay động mái tóc nàng búi hờ hững bay ra sau đầu, trong thoáng chốc khiến nàng có một cảm giác hệt như đang bỏ nhà chạy trốn theo người yêu.

Khúc Du nghịch chơi dải lụa mỏng trên xiêm y, chợt nảy ra ý nghĩ: “Chàng thấy chúng ta có giống như cặp đôi thư sinh cùng tiểu thư bị phụ mẫu không ưng thuận, lén lút chạy ra đây bí mật gặp gỡ không?”

Châu Đàn thong thả đáp lời: “Chỉ còn thiếu một bà mối nữa thôi.”

Hai người dạo chơi một lát trong phố thị, rồi lại trèo lên tường thành Nhược Châu. 

Nếu gặp dịp Thất Tịch, nam nữ ở Biện Đô thường thả hoa đăng trên sông Biện để cầu phúc, còn các đôi tình nhân ở Nhược Châu lại hay thắp đèn trời trên tường thành để cầu nguyện.

Dạo gần đây Châu Đàn tiếp nhận mọi sự lớn nhỏ ở Nhược Châu, mở cửa châu phủ xử lý các vụ kiện cáo nên không ít người đều nhận ra chàng. 

Chàng nắm tay Khúc Du đi dọc trên tường thành, không ít nam thanh nữ tú đều kinh ngạc mà hành lễ.

“Châu đại nhân…”

“Đại nhân và phu nhân tình cảm thật tốt, Thất Tịch cũng đến đây thả đèn.”

Châu Đàn rõ ràng có chút không quen với sự nhiệt tình này, chỉ cứng nhắc gật đầu. Khúc Du tươi cười chào hỏi mọi người, chẳng mấy chốc, trong tay nàng đã được nhét hai chiếc đèn trời làm bằng giấy sáp dầu, có cô nương nhiệt tình đến chỉ nàng cách viết điều ước lên đèn trời, cùng phu quân của mình thả bay lên cao.

Nàng vốn thấy điều này có vẻ ấu trĩ, nhưng vừa nhận lấy bút đã không kìm lòng được, quay lưng đi viết vội một câu.

“Nguyện Châu Đàn đời này sẽ không còn lẻ loi đơn độc, không nơi nương tựa nữa.”

Những ngày gần đây nàng càng lúc càng thêm hoảng sợ về tương lai, điều ước vô thức lại chính là như vậy. 

Trước khi gặp nàng, Châu Đàn đã sống những ngày cô đơn lẻ loi, mà bản thân chàng lại là người suy nghĩ không thông, nếu một ngày kia nàng rốt cuộc phải rời khỏi thế gian này thì ước nguyện lớn nhất của nàng, chính là hy vọng Châu Đàn không bao giờ cô độc một mình nữa.

Nghĩ đến đây, Khúc Du thấy chóp mũi mình hơi cay, nên tiếp tục viết: “Được nhiều người thấu hiểu, ghi nhớ và yêu thương, vĩnh viễn có tri kỷ.”

Nàng viết xong thì ném bút, vội vàng che lại, rướn người sang xem Châu Đàn đang viết gì, Châu Đàn bất ngờ không kịp trở tay, bị nàng nhìn thấy: “Đại Dận thái bình thịnh thế, phu nhân của ta sống lâu trăm tuổi.”

Từ xa có người đang ngân nga khúc ca mà Khúc Du nghe không hiểu, dân ca ở Tây Cảnh khác biệt hoàn toàn với Biện Đô, chẳng những ngôn ngữ chịu ảnh hưởng lớn từ Tây Thiều, mà còn chẳng hề có nét uyển chuyển phong lưu thướt tha của kinh đô, nghe có vẻ du dương trống trải, thậm chí còn mang theo một hai phần ý vị thánh khiết.

Có nữ tử trên tường thành đang hát theo, Châu Đàn mượn ánh trăng nhìn thấy mắt Khúc Du hơi đỏ, bèn hỏi: “Nàng sao vậy?”

Khúc Du lắc đầu: “Không có gì.”

Nàng giơ tay dụi mắt, nở một nụ cười với chàng: “Chúng ta cùng thắp đèn trời đi.”

Châu Đàn đồng ý, thả chiếc của mình trước, đến lượt nàng, Châu Đàn muốn xem nàng đã viết gì, nhưng lại bị nàng ngăn lại: “Điều ước nhìn thấy rồi thì sẽ không linh nghiệm nữa.”

Châu Đàn lầm bầm trách móc: “Nhưng nàng đã thấy của ta rồi mà.”

Khúc Du làm nũng: “Cái đó không tính, không tính không tính, phì phì phì, chắc chắn sẽ thành hiện thực thôi.”

Đèn trời chầm chậm bay lên trước mặt hai người, ánh nến vừa vặn soi sáng đồng tử của Châu Đàn. Khúc Du đột nhiên nhận ra, từ khi đến Tây Cảnh, sự băng giá từ chối người ngoài ngàn dặm trước kia trong mắt Châu Đàn đã tiêu tan, giờ phút này ánh mắt chàng sáng rực, tràn đầy sự thư thái và vui vẻ, vẻ mặt như thế, ở Biện Đô tuyệt đối không thể nào thấy được. Giá như chàng có thể mãi mãi vô ưu vô lo như thế thì tốt biết mấy.

Châu Đàn ôm lấy vai nàng, cùng nàng dõi theo về phía xa từ trên tường thành, dãy núi Cách Lý Lạp dưới ánh trăng mờ ảo, thoáng chốc còn có thể thấy ánh lửa bốc lên từ các bộ lạc nguyên thủy sinh sống trong núi.

Tiếng ca vang vọng trên mảnh đất này, Khúc Du theo ánh mắt Châu Đàn, nhìn thấy hai chiếc đèn trời họ thả bay lên đang quấn quýt nương tựa vào nhau, chầm chậm trôi về phương xa tối tăm.



Thái tử phi vừa mới tự tay mang thức ăn đã hâm nóng từ phòng bếp trở lại thì thấy thị nữ khép nép đẩy cửa bước vào, bẩm rằng Thái tử điện hạ đã hồi phủ.

Phủ Thái tử quy củ vô cùng nghiêm ngặt, các thị nữ đi giày lụa đế mềm, đi lại hầu như không có tiếng động, sợ rằng bước nào lỡ nặng chân sẽ khiến điện hạ không vui.

Thái tử phi khẽ gật đầu với nàng ta, từ tay thị vệ vừa vào đã đỡ lấy Thái tử đang say khướt, các thị vệ và thị nữ không dám nhìn thêm một lần nào nữa, đặt người xuống xong liền đóng cửa lui ra ngay.

Tống Thế Diễm ngửi thấy mùi trầm hương thanh tịnh và yên tĩnh trong phòng, không khỏi tỉnh táo thêm vài phần. Hắn ta nheo mắt nhìn Thái tử phi với vẻ mặt cung thuận cùng thức ăn trên bàn, cười khẩy một tiếng: “Món ăn này sao còn bày ở đây, nàng đang đợi cô trở về sao?”

“Hôm nay là Thất Tịch.” Thái tử phi cụp mắt đáp: “Thiếp thân trong lòng canh cánh, chờ điện hạ về dùng bữa.”

Tống Thế Diễm ngồi xuống trước bàn, trong lúc mơ hồ nhớ lại, từ sau khi thành hôn, mười ngày thì tám ngày hắn ta về muộn, hoặc là xử lý chính vụ, hoặc là mở tiệc chiêu đãi, thời gian còn lại thường đến Phàn Lâu.

Vốn dĩ, Thái tử phi không đợi hắn cùng dùng bữa tối, nhưng vào dịp Thất Tịch năm ngoái, Đức Đế bảo hắn phải cùng hậu cung phi tần dự tiệc, sai hắn ta về phủ bầu bạn với chính phi. Hắn ta nhất thời hứng chí quay về, lại nghe hạ nhân nói Thái tử phi đã dùng xong bữa tối, nghỉ ngơi từ sớm.

Hắn ta cười lạnh lùng bước vào phòng ngủ, quăng ba cái bạt tai vào người nữ tử trên giường. Thái tử phi vì ba cái tát này mà bệnh một thời gian dài, suốt hai tháng không dám ra ngoài gặp người khác.

Thì ra là đã lĩnh giáo bài học từ trước.

Nghĩ đến đây, lòng Tống Thế Diễm miễn cưỡng cảm thấy thoải mái hơn đôi chút, hắn ngồi xuống trước bàn, uống một ngụm canh bách hợp trước mặt.

Món canh này không hợp khẩu vị của hắn, hơi nhạt, hệt như người trước mặt vậy, nhạt nhẽo vô vị, hắn ta uống vài ngụm liền chán chường đặt bát xuống, nhắm mắt nhướng mày.

Thái tử phi lập tức tiến lên cởi áo nới đai cho hắn, hiếm thấy sự ân cần: “Điện hạ tối nay đi đâu vậy? Trông có vẻ rất vui.”

“Cùng chư quân dự tiệc, nghe đàn nguyệt cầm suốt cả buổi tối.” Tống Thế Diệm lười biếng đáp, chợt lại mở mắt, nhìn kỹ nàng: “Nói ra cũng lạ, Xuân nương tử rõ ràng cũng chẳng phải giai nhân tuyệt sắc như Khúc Du hay Cao Vân Nguyệt gì, sao mà một cái nhíu mày một nụ cười lại câu hồn đoạt phách đến thế? Mặt mũi nàng tuy cũng coi là đoan chính, nhưng không có giây phút nào mà không khiến người ta cảm thấy buồn nôn.”

Thái tử phi rũ mắt, đối với sự lăng nhục như vậy đã trở nên tê liệt: “Là thiếp đã khiến điện hạ phiền lòng.”

Việc bị so sánh với nữ tử lầu xanh rõ ràng là một sự sỉ nhục mà cả những nữ tử bình thường cũng khó lòng chịu đựng nổi, huống hồ là một nữ tử xuất thân từ thế gia đại tộc lại giữ gìn quy củ như Thái tử phi. Thế nhưng trên mặt nàng lại chẳng hề lộ ra một chút tức giận nào.

Tống Thế Diễm trước đây thấy sự cung kính này rất vừa mắt, nhưng hôm nay đại khái là do uống rượu quá chén, ngược lại lại cảm thấy cực kỳ bực bội vì sự bình tĩnh của nàng: “Phải chăng dù cô nói gì, nàng cũng chỉ bày ra bộ mặt chết trân này?”

Thái tử phi run rẩy nói: “Thiếp hoảng sợ.”

“Lại là mấy câu này.” Hắn giãn gân cốt ở tấm lưng hơi cứng đờ, chợt lại trêu chọc: “So sánh nàng với nữ tử lầu xanh mà nàng còn không giận, nếu ta muốn nàng cùng họ làm tỷ muội thì sao?”

Mặt Thái tử phi cứng đờ, rồi rất nhanh nặn ra một nụ cười: “Điện hạ phải chăng đã để mắt đến vị hoa khôi nương tử nào trong thành Biện Đô rồi?”

“Cô nói là nàng.” Tống Thế Diễm thiếu kiên nhẫn, đáp: “Trưởng nữ của lão sư còn có thể vô tư kết giao với Xuân nương tử, hệt như nội quyến của Châu Đàn vậy. Chỉ có các tiểu thư thế gia như các nàng tự cho mình là có lễ có tiết, rốt cuộc chỉ là một mớ quy củ thối tha sơ sài. Phải chi trước đây ta đã nhìn lầm cô tiểu thư họ Cao đó, cứ ngỡ cưới nàng ta và cưới nàng chẳng khác gì nhau, nào ngờ…”

Nói đến đây, hắn ta đột ngột đổi chủ đề: “Nhưng mà, cô tiểu thư họ Cao kia gần đây đang bàn chuyện hôn sự, đã làm bẽ mặt mấy vị công tử thế gia rồi. Nàng ta mắt cao hơn trời, nhưng lại không có tâm cơ, cũng chẳng biết cuối cùng sẽ để mắt đến ai. Nói đi cũng phải nói lại, cô vẫn thích những nữ tử thông minh hơn, người thông minh có lòng kiêu hãnh, đó mới là cốt cách thật sự, bằng không cũng chỉ là kẻ ngốc tự cho mình là thanh cao mà thôi…”

Thái tử phi không biết lúc này hắn ta đang thẫn thờ nghĩ đến ai, chỉ thuận theo ý hắn ta, vội vàng cười xòa đáp: “Điện hạ nếu đã để mắt đến ai, cứ việc đưa về phủ là được rồi… Thiếp vô năng, khoảng thời gian vào cửa này, không thể sinh hạ con cháu cho điện hạ, thật sự hổ thẹn, nếu muội muội có thể giúp điện hạ khai chi tán diệp, thiếp nhất định sẽ trân trọng đối đãi.”

Xem ra cưới một vị phu nhân như thế cũng không phải là hoàn toàn vô dụng, dù sao nàng cũng cung kính giữ lễ, thậm chí sẽ không hề giận dữ vì sự hoang dâm ph*ng đ*ng của hắn.

Tống Thế Diễm ngồi trên ghế, đưa tay xoa cằm vị Thái tử phi đang quỳ dưới chân mình, cười lạnh nhạt: “Trữ phi đại lượng thế này, cô rất an lòng.”

Thấy hắn ta hiếm hoi lộ ra chút tán thưởng, Thái tử phi như được khích lệ, tiếp tục nói: “Điện hạ phải chăng thích Xuân nương tử ở Xuân Phong Hóa Vũ Lâu? Thiếp nghe nói tài nghệ nguyệt cầm của nàng ta là độc nhất Biện Đô, nếu có thể được vào phủ đàn tấu riêng cho điện hạ thưởng thức đương nhiên là rất tốt. Chẳng qua hiện giờ bệ hạ quản thúc có chút nghiêm ngặt, không biết liệu có vì thế mà không hài lòng với điện hạ không?”

Tống Thế Diễm cười một cách bất cần: “Phụ hoàng gần đây long thể không khỏe, hẳn là không quản được nhiều chuyện như thế.”

Nói xong câu này, hắn ta hồi tưởng lại lời nói trước đó của Thái tử phi, có chút bất ngờ, suy nghĩ một lát mới hiểu ra đối phương lầm tưởng hắn ngưỡng mộ Diệp Lưu Xuân.

Tống Thế Diễm lười giải thích, chỉ tiếp tục xoa cằm nàng, cười đắc ý: “Cô nếu nạp người vào cửa, nhất định sẽ không để lại điều tiếng gì, dù là giúp người ta hoàn lương giả chết, rồi tạo ra một thân phận mới, cũng có thể khiến đám lão ngoan cố ở Ngự Sử Đài không thể tìm ra lỗi lầm gì, chỉ là Xuân nương tử… đã có ý trung nhân rồi.”

Thái tử phi ngước mắt nhìn hắn, Tống Thế Diễm từ trong đồng tử mang theo chút sợ hãi của nàng thấy được hình bóng phản chiếu của mình, sững sờ một chút, sau đó nhíu mày.

“Nhưng cô… thích nhất là nhìn cảnh mà người có tình phải chia ly.”

——

Tít: Nghe thằng cha này nói đến đây chắc mọi người biết hắn thích ai rồi ha. Sẽ có chút sóng gió trước khi thành hôn lại, nhưng mà đôi trẻ vẫn sẽ hạnh phúc thôi nè.
Bạn có thể dùng phím mũi tên ← → hoặc WASD để lùi/sang chương.
Báo lỗi Bình luận
Danh sách chươngX

Cài đặt giao diện